05:33 +07 Thứ bảy, 11/07/2020

1   Menu

1   Đăng nhập thành viên

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - sự kiện

Sự biến đổi cơ cấu xã hội – nghề nghiệp của nông dân đồng bằng Sông Cửu Long thời gian qua và vấn đề đặt ra

Thứ ba - 17/12/2019 07:55
   Với diện tích tự nhiên khoảng 40.553 km2 (chiếm 12,2% cả nước), dân số hơn 18 triệu người (chiếm gần 20%), trong đó có khoảng 75% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn, đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) là vùng đất hội cư của nhiều tộc người, trong đó chủ yếu là người Việt (khoảng 90%), người Khmer (khoảng 6%), người Hoa (khoảng 2%), còn lại là người Chăm và dân tộc khác. Trong đó, người Khmer chủ yếu sống tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang.

   Mặc dù, diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước, nhưng ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản lớn nhất nước ta, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa cả nước, 90% lượng gạo xuất khẩu, chiếm 20% thị phần xuất khẩu gạo toàn cầu; bình quân lương thực đầu người gấp 2,3 lần so với lương thực trung bình cả nước; cung cấp hơn 70% sản lượng trái cây; 52% sản lượng thủy sản. Đặc biệt, đây là khu vực cung cấp đến 80% sản lượng tôm xuất khẩu và đóng góp khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước [1].

   Trong giai đoạn đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, sự biến đổi cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL đã tác động mạnh mẽ tới sự biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp (CCXH-NN) của người nông dân cả về chiều rộng và chiều sâu. Xu hướng đa dạng hóa ngành nghề trong sản ở xuất nông thôn đã, đang và sẽ đưa tới sự đa dạng hóa trong cơ cấu nghề nghiệp trong nội bộ giai cấp nông dân.

   1. Thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội – nghề nghiệp của nông dân
   - Về cơ cấu hộ nghề nghiệp:

   Cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ của cơ cấu kinh tế, sự phân công lao động xã hội - nghề nghiệp của người nông dân ở ĐBSCL đã và đang diễn ra tương đối rõ nét mà biểu hiện rõ nhất là sự dịch chuyển nghề nghiệp của hộ gia đình ở nông thôn. Có thể thấy các hộ gia đình đang được phân chia theo hướng: hộ thuần nông; hộ hỗn hợp và hộ phi nông nghiệp.
Nhóm hộ phi nông nghiệp gồm những gia đình đã chuyển sang một số ngành nghề phi nông nghiệp như buôn bán, dịch vụ, hoặc sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Những hộ tách khỏi nông nghiệp thường là những hộ có tiềm lực kinh tế do tích góp lâu năm, những hộ có trình độ cao, nhạy bén với cơ chế thị trường và những hộ có tay nghề cao về nghề thủ công. Ở ĐBSCL hiện nay có khoảng 210 làng nghề tiểu thủ công, có nhiều làng nghề chỉ nhắc đến đã liên tưởng ngay tới những sản phẩm đặc trưng của nó. An Giang có làng dệt thổ cẩm, đường thốt nốt, mắm cá; Vĩnh Long có làng nghề làm gốm, nghề đan lát; Sóc Trăng có bánh pía, lạp xưởng; Tiền Giang có làng tủ thờ, làng nón bàng buông, mắm tôm chà; Bến Tre có kẹo dừa, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ làm ra từ cây dừa; Kiên Giang có nước mắm, khô mực; Đồng Tháp có làng hoa kiểng, bonsai, cổ thụ... Bên cạnh những hộ có nghề truyền thống ở nông thôn, trong những năm qua còn xuất hiện nhóm hộ chuyên buôn bán, dịch vụ những hộ này nằm rãi rác đều ở nông thôn các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt các hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi gia súc, thức ăn thủy sản, vựa trái cây, bán tạp hóa, hộ kết hợp nghề truyền thống với dịch vụ du lịch... Nhóm này thường là những hộ gia đình trẻ, năng động, có khả năng tiếp thị, có năng lực kinh doanh buôn bán; một số chủ hộ tốt nghiệp đại học các ngành kinh tế, nông nghiệp, thủy sản nhưng không đi làm công.

   Số hộ phi nông nghiệp hoàn toàn ở nông thôn ĐBSCL đến nay có xu hướng ngày càng giảm dần. Đặc điểm cơ bản của nhóm hộ này thường là có mức sống khá cao, thường rơi vào tầng lớp trung lưu ở nông thôn, tuy nhiên việc kinh doanh của họ cũng gặp nhiều khó khăn do sự biến động của thị trường vì phần lớn trong số họ chỉ là chuỗi đại lý phân phối cấp 2, cấp 3, cũng như gặp tình trạng nông dân mất mùa phải nợ lại tiền vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi. Sự khẳng định và phát triển của nhóm hộ này trước mắt còn chịu nhiều thử thách.

   Nhóm hộ gia đình hỗn hợp hay còn gọi là đa ngành nghề: Với xu hướng đa dạng hoá ngành nghề theo tinh thần “ai giỏi nghề gì, làm việc đó”, một bộ phận nông dân ĐBSCL đã lựa chọn mô hình sản xuất kinh doanh hỗn hợp, tìm kiếm thêm ngành nghề ngoài nông nghiệp vừa nhằm giải quyết lao động dư thừa tại chỗ, vừa tăng thêm thu nhập. Sự phân công lao động trong nhóm hộ gia đình này rất đa dạng.

   Tính đa dạng của sự phân công này tuỳ thuộc vào tính năng động của các thành viên trong hộ gia đình, nơi cư trú (cận giang, cận thị...), truyền thống làng xã, tổ chức gia đình, số lượng lao động, trình độ văn hoá, năng lực sản xuất, vốn đầu tư; tuỳ thuộc vào quy mô tích tụ ruộng đất, ao, vườn... Mỗi gia đình tìm ra một cách tổ chức lao động sao cho phù hợp nhất với điều kiện gia đình và bối cảnh địa phương.

   Tuy nhiên, do tâm lý, tập quán của người nông dân là phải “ăn chắc, mặc bền”, do đó đa số hộ hỗn hợp vẫn giữ lấy ruộng đất mà gia đình đã tích tụ để tránh rủi ro khi nghề phi nông bị thất bại, mặc dù bản thân họ không tham gia sản xuất nông nghiệp (thuê người khác làm).

   Nhóm hộ gia đình thuần nông hay còn gọi là nhóm “trọng nông” (làm nông nghiệp là chính): Đây là nhóm hộ mà phần lớn trong số họ không có tính cơ động kinh tế - xã hội và mang nặng tính chất kinh tế truyền thống tự cung, tự cấp (hộ dân tộc Khmer chiếm tỷ lệ đa số trong nhóm này). Tỷ lệ hộ nghèo và rất nghèo trong cả vùng ĐBSCL đa số đều rơi vào nhóm hộ này. Đối với họ, khả năng chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp là rất khó khăn vì hạn chế về năng lực, lại không có những điều kiện khách quan thuận lợi về vị trí địa lý, truyền thống nghề... Mặc dù vậy, trong nhóm hộ thuần nông này vẫn có một bộ phận ở những vùng thuận lợi cho nuôi trồng thủy, hải sản, họ tích tụ ruộng đất, ao, đìa đầu tư lớn vào nuôi tôm, cá nước lợ, nước ngọt và trở nên giàu có, trở thành những ông chủ ở nông thôn. Họ thuê mướn nhiều lao động từ những hộ nghèo trong nhóm này và những hộ nghèo này lại làm mướng trên chính mãnh đất mà mình mới vừa sang nhượng...

   Tuy nhiên, từ khi đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhất là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì các nhóm hộ thuần nông ở ĐBSCL cũng đã có sự biến đổi (mặc dù còn rất chậm). Để có được nguồn thu nhập cao hơn, một số nhóm hộ này đã tăng cường khả năng thâm canh, đa dạng hoá giống, cây, con, vận dụng mô hình VAC và có nơi đã rất thành công.
Nhiều trang trại của nông dân phát triển khá mạnh, nhiều hộ nông dân tích tụ ruộng đất làm ao nuôi tôm hiệu quả cao, đây cũng là một sự phát triển mang tính bứt phá của người nông dân. Một số hộ thuần nông khác đã vượt qua sức ỳ của tâm lý truyền thống, đi làm thuê ở các vùng lân cận hay ra thành phố và làm đủ các nghề (công nhân, xây dựng, vận tải, thu gom phế liệu, giúp việc gia đình...); thậm chí có hộ đi cả gia đình và đi làm cả năm mới về; có lao động đi làm thuê ở nước ngoài với thời hạn 3 - 5 năm.

Bảng 1: Tỷ trọng các loại hộ gia đình nông dân ở ĐBSCL năm 2015 phân theo nghề nghiệp
                                                                                                                    Đơn vị tính: %
Các loại hộ gia đình Cả nước ĐBSCL
  Hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản 62,14% 65,58%
  Hộ công nghiệp và xây dựng 15,03% 12,48%
  Hộ dịch vụ 18,42% 19,89%
  Hộ khác 4,41% 2,05%
(Nguồn: Tổng cục Thống kê: Kết quả điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2015, Nxb Thống kê, HN. 2016)
 
   Nhìn chung, sự phân công lao động trong hộ gia đình có nét khác biệt so với trước đây: Vừa chuyên môn hóa, vừa đa dạng hóa. Các hộ gia đình phi nông nghiệp tính chuyên môn hóa rõ nét hơn; các hộ gia đình hỗn hợp (đa nghề) thì tính kết hợp đa dạng là nét đặc trưng nổi bật (hầu hết các thành viên có thể đảm nhận nhiều công việc cùng môt lúc). Việc kết hợp đa nghề này khơi dậy tính năng động, linh hoạt của nông dân trong các loại gia đình này. Tuy nhiên tính chất đa nghề ở đây vẫn chủ yếu là những nghề không có trình độ kỹ thuật cao (phụ nề, mộc, thu gom phế liệu...).

   Tuy nhiên, dù đã có những chuyển biến nhanh theo hướng tích cực về cơ cấu hộ trong thời gian qua, nhưng tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp còn chậm và rất chênh lệch giữa các địa phương. Sóc Trăng và Trà Vinh là những địa phương chuyển dịch còn rất chậm trong gần 20 năm qua. Tỷ trọng các hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ở Sóc Trăng chỉ tăng từ 6% lên 7,9%, Trà Vinh từ 6,7% lên 8,3%[2]. Điểm đáng lưu ý là tỷ trọng hộ công nghiệp hầu như không thay đổi ở hai vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống này. Đây cũng là những địa phương mà hầu hết các hộ kinh tế là hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (chiếm 70% trở lên).

   Cơ cấu hộ theo nguồn thu nhập chính phản ánh xu hướng phát triển đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn. Phát triển ngành nghề ngày càng đa dạng dần phá thế thuần nông ở nông thôn và hiệu quả sản xuất của các hoạt động phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về cơ cấu hộ theo ngành nghề và theo nguồn thu nhập chính. Tính đến năm 2015, ở ĐBSCL, tỷ lệ hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 75,1% số hộ ở khu vực nông thôn nhưng chỉ có 47,83% số hộ ở nông thôn có nguồn thu nhập lớn nhất từ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; trong đó các địa phương có sự khác biệt nhiều là: Kiên Giang có 61,2% số hộ làm nông, lâm thủy sản ở khu vực nông thôn nhưng chỉ có 42,8% số hộ ở nông thôn có nguồn thu nhập lớn từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản); một số tỉnh có tỉ lệ tương ứng là Sóc Trăng (74,8% và 68,8%), Trà Vinh (76,5% và 72%). Trong khi đó tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng chiếm 10,2% số hộ ở nông thôn nhưng lại có 11,3% số hộ ở nông thôn có nguồn thu nhập lớn nhất từ các hoạt động công nghiệp và xây dựng, Long An hai tỷ lệ tương ứng là (38,5% và 39,4%). Hai tỷ lệ tương ứng của hộ dịch vụ là (14,9% và 15,2%) [3].

   - Về cơ cấu lao động nghề nghiệp:

   Tương đồng với sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình nông dân thì sự phân công lao động trong nội bộ nông dân cũng đã có những chuyển biến đáng kể theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng các loại lao động khác.

   Tính riêng từ năm 2001-2011, cơ cấu lao động theo nghề nghiệp đã có bước chuyển dịch tích cực từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Theo số liệu thống kê, nếu như năm 2001, lao động nông nghiệp còn chiếm 65,89%, thì đến năm 2011 đã giảm xuống còn 51,72% (bình quân 1,42%/năm); lao động khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 10,57% lên 16,82%; dịch vụ từ 23,5% tăng lên 31,5%.

   Xuyên suốt giai đoạn 1996 – 2015, lao động trong các ngành nông, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn ĐBSCL có sự dịch chuyển như sau: năm 1996 lao động nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ tương ứng là (65,61; 10,15; 24,25), năm 2000 là (61,54; 11,20; 27,25), năm 2005 là (59,71; 13,58; 26,71) và năm 2015 là (50,9; 16,7; 32,5) [4].

   Số liệu trên cho thấy, ở ĐBSCL, cơ cấu lao động theo ngành nghề có sự biến đổi theo xu hướng tích cực, giảm tỉ lệ lao động trong nông nghiệp, tăng tỉ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể lao động nông nghiệp giảm từ 65.61% năm 1996 xuống còn 50,9% năm 2015, tức là giảm gần 1/3, lao động công nghiệp cũng tăng nhưng không nhiều từ 10,15% năm 1996 lên 16,7% vào năm 2015, tăng hơn 1/2 lần, lao động dich vụ tăng từ 24,25 năm 1996 lên 32,5, tức tăng gần 1/3 lần. Đây là xu hướng mới và tích cực về sự biến đổi CCXH-NN của nông dân ở ĐBSCL, phản ánh kết quả thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long.

   Như vậy, CCXH-NN của nông dân ĐBSCL trong những năm qua có sự biến động tương đối rõ nét, thể hiện sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu hộ gia đình và cơ cấu lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp; tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ, chuyển từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn trên địa bàn nông thôn. Đây là quá trình “giải phóng” người nông dân ra khỏi hoặc một phần mảnh ruộng của họ để chuyển sang lĩnh vực dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp hoặc tiến lên sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo qui mô lớn. Quá trình này gắn kết với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong tổng giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm tại địa bàn nông thôn ĐBSCL.

   Với quá trình chuyển đổi này, trong nông thôn ĐBSCL xuất hiện nhiều làng nghề mới, nhiều nghề mới, nhiều nông dân doanh nhân. Sự “đa nghề” của nhiều làng xã và của người dân góp phần đáng kể vào việc nâng cao mức thu nhập và đời sống vật chất, thay đổi bộ mặt nông thôn; đồng thời làm cho con người ở nông thôn năng động, tháo vát hơn trong sản xuất kinh doanh; không cam chịu nghèo đói mà vươn lên làm giàu chính trên mảnh đất của mình, đồng thời thực hiện tốt phương châm “ly nông bất ly hương”, tác động trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu xã hội của nông dân ĐBSCL trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

   2. Những vấn đề đặt ra
   
   Từ thực trạng nêu trên, đang xuất hiện những vấn đề đặt ra đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở ĐBSCL hiện nay, như:

   Thứ nhất, tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng trong nội bộ nông dân đã ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của giai cấp nông dân và làm giảm đi sức mạnh của khối liên minh công – nông – trí thức.
 
   Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các hộ nông dân hoạt động với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ. Do có điểm khác biệt trong những điều kiện như tính năng động, kiến thức, cách thức tổ chức quản lý, vốn... giữa các hộ nông dân đã diễn ra sự phân hóa, trong đó nhận diện trước hết là sự phân hóa giàu nghèo. Một bộ phận nông dân ngày càng giàu và khá giả; ngược lại một bộ phận khác ngày càng nghèo đi, không tư liệu sản xuất, có rất ít tư liệu tiêu dùng, có cuộc sống bấp bênh, phải lao động làm thuê để kiếm sống và phụ thuộc vào người sử dụng lao động. Mức độ phân hóa này ngày một gia tăng và có nguy cơ dẫn đến sự phân hóa giai cấp.

   Là quốc gia trong đó sản xuất nông nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng nên giai cấp nông dân vẫn là lực lượng cơ bản, có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Sự phân tầng xã hội và nguy cơ phân hóa giai cấp nếu không được khắc phục hữu hiệu thì những hậu quả xã hội sẽ là những nguy cơ khó lường, đồng thời sẽ làm suy giảm vai trò của giai cấp nông dân. Sự suy yếu về mọi mặt của giai cấp nông dân sẽ làm ảnh hưởng đến sự bền vững của khối liên minh công – nông – trí thức, của đại đoàn kết dân tộc và phát triển xã hội.

   Thứ hai, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm chạp, chưa có những biến đổi có tính chất bứt phá để phát triển nông nghiệp, nông thôn

   Để tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì một vấn đề cơ bản được đặt ra là, phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn nhằm tạo ra một năng lực sản xuất mới khác về cơ bản so với nền sản xuất thuần nông. Mấu chốt của vấn đề là phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn thông qua phân công lao động và phân công lại lao động xã hội. Điều đó cũng chính là tạo ra sự phát triển mới về chất lượng đối với nông dân, các hộ nông dân và giai cấp nông dân nói chung trong cộng đồng nông thôn.

   Nông dân sinh sống ở nông thôn nhưng có khả năng vượt ra khỏi giới hạn của nghề nông thuần túy để có thể làm nghề thủ công, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ buôn bán trên thị trường. Kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc phát triển mạnh các khu công nghiệp hương trấn, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” đáng để cho chúng ta suy nghĩ, học tập.

  Do trong những năm qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn chưa được triển khai với tốc độ nhanh và chưa có hiệu quả vững chắc nên về cơ bản chúng ta vẫn chưa khắc phục được những hạn chế vốn có của nền kinh tế thuần nông. Đó là tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún; tình trạng thất nghiệp tuyệt đối và tương đối (không có việc làm hoặc không có việc làm đầy đủ, không tận dụng hết lao động nông thôn trong nông nhàn) ngày càng cao; một bộ phận nông dân vẫn chưa vượt khỏi đói nghèo và nhất là tuyệt đại bộ phận nông dân vẫn sản xuất theo tập quán truyền thống và kinh nghiệm, không có nghề và không được đào tạo nghề một cách cơ bản... Đây chính là những hệ quả xã hội - kinh tế của sự chậm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói trên.

   Do CCXH-NN của nông dân ở nông thôn ĐBSCL chưa có những biến đổi nhảy vọt nên bức tranh xã hội trong các thành phần cư dân ở nông thôn vẫn cho thấy người nông dân thuần nông vẫn là đại diện chủ yếu với đại lượng tuyệt đối, bộ phận nông dân có nghề, nhất là những nghề mới đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường và xây dựng thị trường nông thôn còn rất ít. Trong trường hợp bị bế tắc về cuộc sống và các nguy cơ dẫn đến nghèo đói thì giải pháp chủ yếu và có tính tự phát của họ vẫn là tìm kiếm việc làm bằng mọi cách ở đô thị, kể cả những nghề cực nhọc, vất vả nhất.

   Tình hình trên cho thấy, việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH, thực hiện kinh tế hàng hóa - thị trường là một vấn đề bức xúc và cấp bách để tạo ra những biến đổi cơ bản theo chiều hướng tích cực trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn, cũng như sự biến đổi, phát triển một cách đa dạng cơ cấu xã hội của giai cấp nông dân. Quá trình biến đổi nào, xét đến cùng cũng hàm chứa hai mặt tích cực và tiêu cực, vì vậy sự nhận thức đúng bản chất sự việc để góp phần giúp giới lãnh đạo hoạch định chính sách phát triển đúng hướng, tiên liệu được mọi diễn biến trong đời sống để chủ động có biện pháp xử lý là việc làm luôn có ý nghĩa cần thiết.


[1] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018), “Báo cáo tóm tắt Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra sau 07 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long”.
[2] [3] [4]Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2015), Số liệu thống kê việc làm và thất nghiệp Việt Nam 1995 – 2015, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội.

Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Minh Sang - Phó trưởng Khoa Lý luận Cơ sở

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 217

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 17106

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2490094