14:07 +07 Thứ năm, 27/06/2019

1   Menu

1   Đăng nhập thành viên

Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học » Nghiên cứu - Trao đổi

Một số phương pháp nghiên cứu khoa học

Thứ ba - 18/12/2018 08:42

                                            ThS. Phan Thị Phượng
                                Phó Trưởng khoa Lý luận Mác – Lênin     
 
                                                                        
     Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động nghề nghiệp xã hội đặc biệt nhằm sáng tạo ra hệ thống tri thức mới về thế giới hiện thực để phục vụ lợi ích của con người. Hiểu theo cách khác, NCKH là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, mục đích của nó là nhận thức và cải tạo thế giới phục vụ lợi ích của con người.
 
     Nghiên cứu nói chung có nhiều loại, nhiều mức độ và mục đích khác nhau: Nghiên cứu để nhận biết thông tin nâng cao trình độ học vấn là loại nghiên cứu học tập,nghiên cứu với mục đích tìm hiểu để áp dụng, để vận hành máy móc...v.v, là loại nghiên cứu thực hành, còn nghiên cứu với mục đích khám phá, sáng tạo ra các giá trị nhận thức mới, các luận điểm lý thuyết mới, phương pháp mới bằng sự chứng mính lý giải một cách khách quan khoa học mới được coi là nghiên cứu khoa học.
 
    Nghiên cứu khoa học phải đem lại sự nhận thức khoa học mới về các giá trị tư tưởng kiến thức mới so với điều đã có trước đó, điều mà người đương thời bây giờ mới khám phá ra. NCKH luôn phải kế thừa các giá trị nhận thức có trước, nhưng không gập khuôn, tái tạo lại những cái đó, mà phải từ cái đã có để tìm thấy cái mới hơn, có ích cho loài người hơn, do đó khoa học không chấp nhận sự sao chép, sự lập lại cái cũ mà phải luôn luôn có cái gì đó mới hơn ở các phạm vi và mức độ khác nhau của các lỉnh vực khác nhau.

    Về thực chất, NCKH là hoạt động sáng tạo khoa học của các nhà khoa học. Mục tiêu của NCKH là tìm kiếm cái mới, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới. Chân lý luôn mang tính khách quan duy vật nên NCKH cũng phải chứa đựng nội dung khách quan khoa học về nhận thức và phương pháp cũng như các kết luận rút ra. Nói như vậy không có nghĩa là các công trình khoa học nào cũng mang tính khách quan, chính xác, phải nói là công trình khoa học nào càng nhiều tính khách quan ít tính chủ quan đề là công trình có giá trị. Vì rằng mỗi sự tác động của các yếu tố con người vào các sự vật hiện tượng đều ít nhiều mang tính chủ quan của chính người tham gia, mà con người lại là con người của lịch sử, của thời đại cho nên  khoa học không thể thoát ly tính lịch sử và thời đại sản sinh ra nó. Mục đích của NCKH là tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị xã hội ngày càng cao. Đó là những thông tin khoa học mới nhằm đáp ứng vào sản xuất vật chất hay hoạt động xã hội.
 
    NCKH có nhiều nội dung, phạm vi mức độ và giới hạn khác nhau do từng đề tài qui định. Cũng do chủ đề của đề tài nghiên cứu đặc ra mà người  nghiên cứu phải có các bước thực hành nghiên cứu khoa học thích hợp, không phải các đề tài đều phải có các bước triển khai như nhau. Cái khó của người nghiên cứu không chỉ ở trình độ kiến thức đối với đề tài cần nghiên cứu mà còn ở việc áp dụng các thí nghiệm cao ít tốn về thời gian, sức lực, tài chính nhất mà hiệu quả đem lại tốt nhất là giải quyết thành công và trọn vẹn yêu cầu đặt ra của đề tài.
 
    Chính vì lẽ đó mà người tham gia nghiên cứu khoa học phải có một trình độ kiến thức phù hợp với yêu cầu đặt ra, phải có khả năng thực hành các bước NCKH một cách có hiệu quả nhất, có kết quả cụ thể nhất.

    Sự thành công của NCKH dù là đối với đề tài của các môn khoa học trừu tượng đến mấy cũng là phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn của bộ môn, của ngành hoặc của toàn xã hội. Nói một cách khác là phục vụ cho sản xuất và phát triển xã hội.
 
    Tuy nhiên quá trình NCKH gồm các bước, các công đoạn khác nhau nên cần phải có lực lượng nghiên cứu với trình độ khác nhau tham gia. Do vậy NCKH thường là một hoạt động tập thể của các dạng lao động cụ thể hoặc trừu tượng khác nhau với các công việc, có thể khác nhau như thu thập, xử lý thông tin, khảo sát điều tra, thống kê, hội thảo, phục vụ nghiên cứu , nghiên cứu v.v…trong đó lao động trí tuệ của con người nghiên cứu đóng góp vai trò chủ đạo.
 
    NCKH không thể không nói đến phương pháp nghiên cứu khoa học:
 
1.  Phương pháp qui nạp – diễn dịch       
 
    Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ, người ta tổng kết qui nạp thành những nhận thức, nguyên lý chung.
 
    Phương pháp qui nạp là sự lập lại của một hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua cái riêng. Phương pháp qui nạp đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các qui luật, rút ra những kết luận tổng quát, đưa ra các giả thuyết.
 
    Xuất phát từ những giả thuyết hay những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể, nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu. Đó là phương pháp diễn giải, có ý nghĩa với những bộ môn khoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết.
 
    Qui nạp và diễn dịch là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều thuận nghịch nhau. Chúng liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ gắn bó giữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp qui nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tuc pháp triển theo phương pháp diễn dịch. Do vậy mở rộng giá trị của những kết luận qui nạp vào nghiên cứu đối tượng.
 
2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
 
    Phân tích trước hết là phân tích đối tượng ra thành từng bộ phận, từng mặt, từng yếu tố thành đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó. Từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn. Hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy.
 
    Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, tròng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.
 
    Khi phân tích chúng ta chú ý phân tích theo ngành, hay phân tích theo lãnh thỗ. Phân chia rồi thì chúng ta phân tích, bắt đầu tuần tự.
 
   Ví dụ: Phân tích toàn cảnh kinh tế TP Sóc Trăng thì chúng ta sẽ đi từ kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội.
 
    Trong triết học thì đi từ cái chung đến cái riêng, nghiên cứu từ cái riêng ta đi tìm cái chung.
 
    Ví dụ: Đánh giá chung con người có phải giỏi không? Thì chúng ta nghiên cứu từng cái riêng rồi tổng kết lại ý kiến của các thành viên được một ý chung.
 
    Phân tích tức là mổ sẻ nó ra để nghiên cứu.
 
    Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng nó lại hổ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát.
 
    Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn. Cái chung tìm ra được bản chất qui luật vận động của đối tượng nghiên cứu.
 
    Phân tích và tổng hợp là 2 phương pháp gắn bó chặt chẽ qui định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, phân tích qui luật của bản thân sự vật. Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng.

3. Phương pháp trừu tượng hóa – cụ thể hóa
 
   Sức mạnh của trừu tượng trong nghiên cứu khoa học. Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, việc biến tri thức thông thường thành tri thức khoa học không chỉ hạn chế ở việc quan sát hiện tượng bề ngoài mà còn phải thâm nhập vào bên trong những hiện tượng ấy để tìm cho ra, nhìn cho thấy cái cốt lõi, cái bản chất, cái chung nhất của hiện tượng để từ đó nhận diện chính xác những mối liên hệ căn bản của hiện thực. Có như thế chân lý khoa học mới bộc lộ ra, giúp ta giải quyết được những khúc mắc và giải được bài toán thực tiễn muôn màu muôn vẽ.
 
    Vậy bằng con đường nào để vào đến bên trong, thấu đáo được cái cốt lõi của đối tượng? liệu có thể lúc nào cũng đặt nó lên kính hiển vi hay cho qua các phản úng hóa học? Lúc này sứu mạnh của trừu tượng mà từ tư duy mới có thể bằng việc phân tích tài liệu, thông tin do quan sát cảm tính thu được mà đi sâu vào bản chất của các hiện tượng khách quan. Nó hoàn toàn không phải là sự phản ánh trực tiếp giản đơn mà là cả một quá trình phức tạp để hình thành nên các khái niệm, phạm trù, khám phá ra những qui luật, bản chất.
 
    Sức mạnh của trừu tượng là ở chỗ nhờ nó mà tư duy khám phá ra được nguyên nhân sâu xa cảu các hiện tượng, qua đó ta có thể hiểu được thật thấu đáo những hiện tượng ấy. Trừu tương khoa học vì thế mà phản ánh hiện thực chứ không phải là một bức tranh màu mè, không bố cục mà chỉ gồm những họa tiết lắp ghép với nhau một cách lủng củng và vụn về từ con mắt cảm tính.
Trừu tượng hóa từ chỗ giúp ta nhìn được cốt lõi, bản chất của đối tượng mà giúp ta tránh được cái nhìn phiến diện, hời hợt dễ roi vào chủ quan duy ý chí. Bởi khi ta chỉ nhìn bề ngoài chỉ thấy những hiện tượng thay đổi, phụ thuộc vào những nguyên nhân, hoàn toàn ngẫu nhiên. Ngay ở đây đã dừng lại để kết luận thì mọi cái sẽ chẳng có gì bền bỉ, vững vàng.
 
    Ví dụ: Các nhà kinh tế học tầm thường khi nhận định về giá trị đã cho rằng, giá trị hàng hóa chính là giá cả của nó và do đó giá trị hàng hóa sẽ bị thay đổi ( Theo sự thay đổi của giá cả). Khi có sự thay đổi về cung hay cầu. Nhưng Mác đã băng phép trừu tượng hóa chỉ ra được sự hời hợt của tư duy và lẫn lộn về bản chất của quan điểm này. Ông lập luận khi Y (Li-Vơ-Rơ) vải = X (Li-Vơ-Rơ) rơm. Thì sự ngang bằng giữa 2 vật này không giống nhau ấy ( vải và rơm) làm cho chúng trở thành những lượng như nhau. Sự tồn tại của chúng với tư cách một vật giống nhau sẽ khác sự tồn tại của chúng với tư cách là vải và rơm[1]. Hay nói khác, chúng ngang bằng nhau không phải ở tư cách là vải và rơm mà  là một vật ngang giá. Do đó, giá trị của rơm và vải không thể là rơm mà cũng không phải là vải mà là của một vật tự nó không thể có giá trị nếu không được xét trong mối quan hệ với một vật khác cũng như ta chỉ nhận biết được một vật bị đẩy xa nếu đem so sánh nó với một vật khác.
 
    Tương tự như vây, Mác đã lập luận về điểm này trong dẫn chứng về không gian “ khi chúng ta nói về khoảng cách giữa 2 vật là chúng ta nói về sự khác nhau của chúng trong không gian. Chúng ta giả định rằng, cả 2 vật đều có trong không gian và đều là những điểm trong không gian. Chúng ta làm cho chúng giống nhau với tư cách là những bộ phận của không gian và chỉ sau khi chúng ta làm chúng giống nhau trên quan điểm không gian. Chúng ta mới phân biệt được chúng với tư cách là những quan điểm khác nhau của không gian. Sự thống nhất của chúng là ở chỗ chúng cũng thuộc về không gian”[2].
 
    Như vậy bằng sức mạnh của trừu tượng. Mác đã khám phá ra cái bền vũng nằm trong cái biến đổi, cái đa dạng muôn hình muôn vẻ ngoài ra suy cho cùng chỉ là những biểu hiện của cùng một bản chất. Dù cho giá cả hàng hóa thay đổi như thế nào do những hoàn cảnh cụ thể thì chúng vẫn chỉ là sự biểu hiện của một giá trị.
 
    Một điểm mạnh của trừu tượng hóa là giúp ta phản ánh được hiện thực sâu xa hơn quan sát trực tiếp.
 
     Trừu tượng hóa trong nghiên cứu khoa học là phải biết nhận diện rồi tước bỏ những mặt, những điểm thứ yếu, không quan trọng, không có tác dụng trong việc phân tích bản chất đối tượng nghiên cứu công việc bóc tách và chắt lọc như thế sẽ giúp ta tinh giản được tới cùng cái cốt lõi cảu vấn đề, từ đó giúp nhận dạng đúng bản chất của đối tượng theo tiêu chí đề ra . Như vậy, trừu tượng khoa học là ở chõ đằng sau cái muôn hình muôn vẽ của nhữnghiện tượng bề ngoài là những cái chung, cái giống nhau và “tư duy gan lọc được”[3].
 
     Đó là cái bản chất của muôn vàn những biểu hiện, giống như muôn vàn các con cá với các loại vây, vẩy, màu sắc, hình dáng khác nhau thì vẫn là loài cá. Chúng chung nhau ở những đăc điểm của cá. Cá là bản chất, là cái chủ yếu đặc điểm chung sẳn có của chúng. Mỗi một kiểu vây, vẩy khác nhau, khoác lên con cá là một kiểu biểu hiện riêng phong phú bên ngoài cái bản chất cá.
 
     Nhiệm vụ  của trừu tượng  hóa chính là gạt đi những cái không căn bản, những mối quan hệ bề ngoài giữa các sự vật để vạch ra được sự thống nhất của chúng, thấy rõ được mối liên hệ bên trong căn bản của chúng.
 
    Như đã phân tích, Mác dùng trừu tượng khoa học vạch ra rằng cơ sở dấu kín, thực chất của giá trị trao đổi, là giá trị. Giá trị so với giá trị trao đổi là một sự trừu tượng. Như thế là Mác đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ giá trị trao đổi đến giá trị. Nhưng ông không dừng lại ở đó. Sau khi đã vạch ra rằng, giá trị với tư cách là lao động kết tinh ẩn náu đằng sau mối quan hệ trao đổi của 2 thứ hàng hóa , Mác lại quay trở lại giá trị trao đổi. Ông có nhiệm vụ chỉ ra rằng giá trị tất nhiên phải được thể hiện trong hình thức giá trị trao đổi. Mác cho rằng “ trong thực tế, chúng ta xuất phát từ giá trị trao đổi hay từ mối quan hệ trao đổi của các hàng hóa để tìm ra dấu vết của giá ẩn náu ở trong đó.” Bây giờ chúng ta phải trở lại cái hình thái của giá trị mà ta thấy lúc đầu[4].

    Mác phân tích một cách tỉ mĩ sự phát triển của các hình thái giá trị, sự phát triển ấy kết thúc bằng sự xuất hiện của tiền tệ. Nhưng cái cụ thể này đã được phác họa lại trên một cơ sở sâu sắc hơn: nó đã được bồi đắp bằng những kết quả đạt được, bằng sức mạnh của trừu tượng, bằng sự nhận thức rõ ràng giá trị trao đổi là hình thái biểu hiện của giá trị[5].

 
     Ví dụ này xác minh một cách hùng hồn nguyên lý có vẻ mâu thuẫn do Mác, nêu lên dưới một hình thức lý luận chung trong cuốn góp phần phê phán khoa học kinh tế chính trị. Theo nguyên lý ấy thì cái toàn bộ cụ thể thể hiện ra trong nhận thức vừa với tư cách là điểm xuất phát lại vừa với tư cách là kết quả. Giá trị trao đổi với tư cách là một cái gì cụ thể, là điểm xuất phát trong nhận thức[6].
 
     Vì nhận thức phải liên hệ với hiện thực, thực tiễn, phải nghiên cứu nó, còn hiện thực thực thực tiễn thì hiện ra trước con mắt của người ta với tất cả tính chất cụ thể và phức tạp của nó. Nhưng khi bắt đầu, cái cụ thể ấy còn chưa được chia nhỏ ra, còn chưa được phân tích, do đó mà nó còn là cái khám phá ra những quá trình sâu xa không nhìn thấy được trong sự quan sát trực tiếp của cái cụ thể, cho phép trở lại cái cụ thể, trở lại giá trị trao đổi, nhưng đã được nhận thức với tính cách là sự thống nhất của cái muôn vẻ.
 
    Về mặt này, giá trị trao đổi với tư cách là cái cụ thể chỉ có thể là kết quả, nghĩa là kết quả của sự nhận thức  cái cụ thể trong tư duy. Như vậy, trừu tượng hóa- cụ thể hóa trong nghiên cứu khoa học có 3 đặc điểm chủ yếu mà nhà khoa học khi sử dụng phương pháp cần chú ý.
 
   Thứ nhất, khi ta quan sát một cách trực tiếp hiện thực thì trước mắt ta sẽ hiện lên hàng loạt những sự vật riêng lẻ, hỗn độn rời rạc, tưởng chừng như không có mối liên hệ chung nào. Người làm khoa học phải biết phân biệt, nhận diện trên tiêu chí nghiên cứu và đặc điểm đối tượng nghiên cứu của mình đâu là cái chung, cái riêng cái đặc thù để biết loại bỏ hay giữ lại đúng những điểm thiết yếu. Từ đó sẽ vạch ra được những mối liên hệ bên trong, sự thống nhất và cái chung giữa chúng. Ví dụ: Như Mác đã biết gạt bỏ những hình thái cụ thể của lợi nhuận như địa tô, lợi tức. Để tìm ra cái giống nhau giữa chúng, vạch ra được sự thống nhất căn bản của chúng ấy là giá trị  thặng dư[7].
 
    Cần nhớ rằng, việc nhầm lẫn giữa nội dung và hình thức (chẳng hạn như giá trị thặng dư với lợi nhuận, lợi nhuận nói chung…) Chắc chắn sẽ dẫn đến những lỗi lầm và sai lệch nghiêm trọng về lý luận. Sai lầm này có thể nhìn thấy rõ trong nghiên cứu về bản chất của giá trị thặng dư của AdamSmit và các nhà kinh tế học tầm thường khác. Các ông không biết tìm ra hoặc làm nổi bật giá trị thặng dư lên thành một phạm trù nhất định nên không phân biệt được giá trị thặng dư vối những hình thái đặc biệt của nó, nên đã nảy ra rất nhiều bất hợp lý và những mâu thuẫn không thể giải quyết được. Những đều bất hợp lý ấy chính là nguồn gốc cho những tư tưởng, tán dương chế độ tư bản đương thời và phản lại những giá trị khoa học của CNDV trong triết học Mác[8].
 
    Thứ hai, khi tiếp cận hiện thực bằng cảm tính thì hiện thực sẽ chỉ là một loạt các hiện tượng ngẫu nhiên và trong sự thay đổi nối tiếp nhau do những nguyên nhân tưởng là những nguyên nhân ấy, mọi vật chẳng có gì là bền vững- Chính bởi vậy, người nghiên cứu phải biết áp dụng trừu tượng khoa học làm sao để nhìn cho ra cái tất yếu nằm sau một loạt cái ngẫu nhiên, cái qui luật cho những hiện tượng tưởng như đơn lẻ, rời rạc, phức tạp. qui luật ấy chính là sự thống nhất cái chung mà tư duy bằng trừu tượng hóa tìm ra được. Đó chính là cái tương đối vững vàng, bền bỉ, được bảo tồn và được thể hiện trong muôn vàn sự vật.
 
    Ví dụ như qui luật giá trị là hình thức phổ biến trong thế giới hàng hóa, là sự sinh động và biến đổi đến mức có thể tin rằng là những sự biến đổi ngẫu nhiên[9]
 
    Thứ ba, sau khi đã bằng công cụ trừu tượng hóa để đi sâu nghiên cứu nắm bắt được cái bản chất và qui luật của vấn đề, người làm khoa học phải biết soi rọi tri thức mình vừa có được vào thực tiễn để xem nó phát triển và thể hiện cụ thể như thế nào và để thấy được sự phức tạp và tính muôn vẻ của nó. Có như thế, tư duy mới sắc sảo hơn, tri thức mới phong phú hơn, vững vàn hơn chống lại sự tấn công của những tri thức lạc hậu dốt nát và bảo thủ. Giống như Mác, sau khi đã bằng trừu tượng khoa học để tìm ra bản chất của tư bản là thặng dư đã quay lại tìm kiếm lịch sử phát triển và biểu hiện của nó trong lòng xã hội phong kiến và xã hội đương thời- địa tô, lợi tức, lợi nhuận…Có như thế ông mới thấy được tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản, chống lại được sự ngụy biện tư tưởng thủ cửu của những kẻ muốn duy trì chủ nghĩa trì chủ nghĩa tư bản./.
 
Tài liệu tham khảo:
 
1.     Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học. của TS Nguyễn Tiến Đức, Nxb Thống Kê , HN 2006.
2.     Tìm hiểu môn học triết học Mác –Lênin ( dạng hỏi và đáp) của PGS.TS Trần Văn Phòng (chủ biên) , Nxb LLCT, HN 2006
3.     Giáo trình Triết học Mác- Lênin Của Học Viện Báo Chí và Tuyên Truyền , HN 2012
           4..Giáo trình KTCT Mác –Lênin Của Học Viện Báo Chí và Tuyên Truyền ,            HN 2012
5. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M. 1977, t39
6. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M. 1977, t7
7. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chinh1c trị quốc gia, H. 2002,t23
8. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chinh1c trị quốc gia, H. 2002,t25
 

[1]  Giáo trình KTCT Mác – Lênin,  của HVBC và TT, HN ,2012.
 
[2]  Giáo trình KTCT Mác – Lênin,  của HVBC và TT, HN ,2012.
 
[3] Giáo trình KTCT Mác – Lênin,  của HVBC và TT, HN ,2012.
 
 
[4] Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 1994, t25.
[5] Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 1994, t25.
[6] Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 1994, t25.
 
[7] Mác  và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 1994, t25
[8] Mác  và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 1994, t25
[9] Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, H, 1994, t23.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 1383

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 42759

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1802495