05:52 +07 Thứ ba, 20/11/2018

1   Đăng nhập thành viên

Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học » Nghiên cứu - Trao đổi

Một số điểm mới về điều kiện để di chúc hợp pháp theo quy định của bộ Luật Dân sự năm 2015

Thứ năm - 28/12/2017 16:28

      Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Để một di chúc bảo đảm tính hợp pháp, đòi hỏi phải đáp ứng nhiều điều kiện khác nhau.

    Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một số điểm mới về điều kiện để di chúc hợp pháp theo quy định của BLDS năm 2015.

    Trước đây, theo quy định tại Điều 652 của BLDS năm 2005 về di chúc hợp pháp, thì:
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”.

     Tuy nhiên, có thể thấy rằng quy định này đã phát sinh một số tồn tại, hạn chế nhất định. Cụ thể là:

     Theo Điểm b Khoản 1 Điều 652, BLDS 2005 nêu trên thì “nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”.

     Trong khi đó, tại Điểm b Khoản 2 Điều 122, BLDS 2005 quy định về  điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì:

     “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”.

     Như vậy, về mặt kỹ thuật, khi đối chiếu giữa hai quy định này thì dễ nhận thấy rằng vẫn chưa có sự thống nhất với nhau giữa một bên là “không trái pháp luật” và một bên là “không vi phạm điều chấm của pháp luật”.

     Thêm vào đó, nếu sử dụng cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật” trong trường hợp này thì sẽ có sự mâu thuẫn với các quy định về quyền công dân đã được hiến định. Bởi theo quy định của Hiến pháp thì “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật” (tức không bao gồm trong đó văn bản dưới luật).
  
     Để giải quyết những tồn tại, hạn chế này, Điều 630 BLDS năm 2015 quy định về di chúc hợp pháp như sau:
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”.
   
    Đồng thời, Điểm c Điều 117, DLDS năm 2015 cũng đã có sự điều chỉnh lại như sau: “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

     Việc sửa đổi, bổ sung này trong BLDS năm 2015 nhằm giúp cho các quy định về điều kiện để di chúc hợp pháp đảm bảo thống nhất, logic, mạch lạc hơn và đặc biệt là phù hợp với các quy định về quyền công dân đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013./.

     Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Dân sự năm 2005, 2015;
2. PGS.TS Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, năm 2016, tr.565-566.

                                                                            Nguyễn Trang Hòa
                                                                    Trưởng Khoa Nhà nước và pháp luật


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: chi tiết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 66


Hôm nayHôm nay : 174

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 18260

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1510403