20:22 +07 Thứ năm, 19/09/2019

1   Menu

1   Đăng nhập thành viên

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học » Nghiên cứu - Trao đổi

Dấu ấn của thời kì phù Nam – Óc eo tại vùng đất Sóc Trăng qua bức tượng nữ thần Laskmi

Thứ hai - 17/12/2018 14:01

                                           TS. Dương Thị Ngọc Minh
                                           GV Khoa Xây dựng Đảng
                             
 
     Dấu vết của văn hóa Óc Eo được phát hiện trong phạm vi rất rộng, bao trùm hầu hết các tỉnh Nam Bộ. Trong đó tập trung chủ yếu là ở các tỉnh ĐBSCL như Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu. Ngoài 3 tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang có thành tựu nỗi bật nhất trong cơ tầng văn hóa Óc Eo – Phù Nam thì tỉnh Sóc Trăng cũng tham gia vào bối cảnh lịch sử - văn hóa chung của khu vực và cũng có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn hóa Óc Eo, làm phong phú thêm cho thành tựu vật chất của nền văn hóa này.
 
1. Những nhận thức mới về Phù Nam, Óc Eo
 
1.1. Vương quốc Phù Nam           
 
     Phù Nam là tên gọi của một nhà nước cổ đã từng tồn tại trên vùng đất Nam bộ. Theo các nhà nghiên cứu, Phù Nam là tên gọi theo cách phát âm “founan” của người Trung Hoa. Còn phiên âm của tiếng Khmer cổ là “bnam”, ngày nay gọi là “phnom” có nghĩa là “núi”. Vua Phù Nam có nghĩa như “vua núi” theo tiếng Phạn là “parvatabhûpala”, tiếng Khmer là “kurung bnam”(1). Vương quốc Phù Nam được coi là thể chế nhà nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Nó hình thành từ thế kỷ I SCN, suy vong từ khoảng thế kỷ VI và mất hẳn từ thế kỷ VII.
 
 Lịch sử của vương quốc Phù Nam đã chìm sâu vào dĩ vãng. Trước đây, việc nhận thức về sự tồn tại của vương quốc này chủ yếu dựa vào những ghi chép từ những nguồn sử liệu, thư tịch cổ của Trung Quốc, mà qua đó đã phần nào “ghi nhận sự tồn tại của vương quốc Phù Nam ở vùng đất tương ứng với vùng đất Nam bộ(2). Những bộ sách sử của Trung Quốc từ Tiền Hán Thư, Hậu Hán thư, đến Tấn thư, Tống thư của nhà Tiền Tống (420 – 478), Nam Tề thư (479 – 501), Lương thư (502-556), đến Tùy thư (589-618), rồi đến Tân Đường thư (618-916)… đều có ghi chép về Phù Nam. Ngoài ra còn có ba tác phẩm riêng biệt cũng nói về Phù Nam là Thủy kinh chú, trong dó có chương “Phù Nam Ký”, “Thái Bình ngự lãm” trong đó có chương “Nam Châu di vật chí” và cuối cùng là những ghi chép của các nhà tu hành, như  Nghĩa Tĩnh qua vùng này trong khoảng 671-695 và đã ghi lại “Nam hải ký qui nội pháp truyền”, “Đại Đường tây vực pháp cao tăng truyện” (chương XXI-XXII)… Mặc dù tên vương quốc này không còn thấy xuất hiện ở các  sử sách Trung Quốc từ sau thế kỷ VII nhưng theo những tài liệu cổ này, Phù Nam trong thời hưng thịnh của mình đã kiểm soát một vùng đất  kéo dài từ phía nam của Trung Bộ Việt Nam, trung lưu sông Mê Kông và một phần lớn châu thổ sông Mê Nam gồm phía bắc  bán đảo Mã lai và cả vùng đất ven vịnh Thái Lan.
 
     Lịch sử hình thành vương quốc này thường bắt đầu bằng một truyền thuyết phổ biến, được chép đi chép lại trong các tư liệu thành văn của Trung Quốc. Đó là sự kiện hợp hôn giữa Hỗn Điền, một người ngoại quốc thờ thiên thần vượt biển từ xa tới với Liễu Diệp, một nữ hoàng của dân bản địa: “Vua Phù Nam nguyên gốc là một nữ hoàng tên là Diệp Liễu (Liễu Diệp). Hồi đó có một người ngoại quốc tên là Hỗn Hi (Hỗn Điền) thờ thiên thần. Người ấy mộng thấy thần ban cho một cái cung và bảo cứ đi theo thuyền lái buôn thẳng ra bể khơi. Sáng dậy Hỗn Hội đến chỗ thờ đền thần, bắt được cái cung rồi đi theo thuyền buôn ra b. Chàng đến ngoại ô thành Phù Nam. Diệp Liễu đem quân ra đánh. Hỗn Hội dương cung lên. Diệp Liễu sợ xin hàng, bị Hỗn Hội bắt làm vợ và chiếm lấy nước làm vua truyền cho con cháu…”. Như vậy, Hổn Điền – vị vua đầu tiên của Phù Nam rất có thể là một tăng lữ Bà La Môn của Ấn Độ đã theo đường biển đến vùng đất này, kết hôn với nữ hoàng của dân bản địa và thành lập triều đại, đưa vùng đất đồng bằng sông Cửu Long bước vào ngưỡng cửa của thời đại văn minh - thời lập quốc, có giai cấp và nhà nước. 
 
    Theo Lương thư thì “Nước Phù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn, phía tây của biển, cách Nhật Nam có đến 7000 lí, cách Lâm Ấp ở phía tây – nam đến hơn 3000 lí. Thành cách biển 500 lí ( khoảng 200km), có sông rộng 10 lí, từ Tây - bắc chảy sang Đông nhập vào biển. Nước rộng hơn 3000 lí, đất trũng ẩm thấp, nhưng bằng phẳng rộng rãi”3. Sử liệu Trung Quốc cũng cho biết Óc Eo là hải cảng của Phù Nam ở vùng duyên hải của đồng bằng sông Cửu Long thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang ngày nay. Nó là một trung tâm kỹ nghệ và thương mại cổ đại và là một trong những đô thị sớm nhất và sầm uất nhất của cả cả khu vực Đông Nam Á thời cổ đại. Còn theo Tấn Thư miêu tả thì người Phù Nam “hầu hết đều đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần, đi chân đất, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, không trộm cắp.
 
     Như vậy, nguồn sử liệu thư tịch Trung Quốc đã “ghi nhận sự tồn tại của vương quốc Phù Nam ở vùng đất tương ứng với vùng đất  Nam Bộ”(4). Tuy nhiên, trong một thời gian dài nền văn minh cổ đại của cư dân  Nam Bộ chỉ được biết đến qua các thư tịch cổ. Đến năm 1944, nhà khảo cổ học người Pháp Malleret tiến hành khai quật di chỉ Óc Eo đã phát hiện nhiều di tích kiến trúc và hiện vật quý chứng minh đó chính là di tích vật chất của Phù Nam vì niên đại của các di chỉ thuộc văn hóa Óc Eo phù hợp với thời kỳ tồn tại của quốc gia Phù Nam được phản ánh trong các sử liệu chữ viết.
 
     Có thể nói, nhờ vào những thành tựu quý báu của ngành khảo cổ học từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vấn đề Phù Nam ngày càng được soi rọi rõ hơn dưới ánh sáng của khoa học.
 
1.2. Văn hóa Óc Eo
 
   Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ, được giới khoa học biết đến từ cuối thế kỷ XIX.
 
    “Óc Eo” là tên gọi của một địa danh thuộc xã Vọng Khê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Khái niệm“Văn hóa Óc Eo” được hiểu là một nền văn hóa khảo cổ, có những đặc điểm chung về di tích, di vật, được L. Malleret đặt ra sau cuộc khai quật vào năm 1944. Nền văn minh này được hình thành và phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN.
 
    Những phát hiện liên tiếp của khảo cổ học sau đó đã mở rộng địa bàn phân bố của nền văn hóa này, trải rộng hầu như trên khắp địa phận khu vực ĐBSCL từ các tỉnh Ang Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tây Ninh, Long An… với các di chỉ lần lượt được khai quật: Gò Thành (Tiền Giang), Đá Nổi (An Giang), Nền Vua (Kiên Giang), Cạnh Đền (Minh Hải), Nhân Nghĩa (Cần Thơ), Gò Me (Vĩnh Long), Gò Tháp (Đồng Tháp), Vĩnh Hưng (Bạc Liêu)…Các di tích khai quật đã làm lộ diện về sự tồn tại của một nền văn hóa khảo cổ, đều có chung đặc điểm và tính chất văn hóa với khu di tích Óc Eo (An Giang) mà L. Malleret đã phát hiện. Điều quan trọng là, các kết quả khai quật khảo cổ này đã chứng minh văn hóa Óc Eo chính là sản phẩm vật chất của Vương quốc Phù Nam. Vì xét về mặt thời gian và địa bàn, lãnh thổ thì nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam có mối quan hệ tương ứng với nhau, cũng giống như văn hóa Đông Sơn với nhà nước Văn Lang hay văn hóa Sa Huỳnh với nhà nước Chămpa vậy. Có lẻ vì thế mà hiện nay nhiều nhà nghiên cứu đã mạnh dạn gọi văn hóa Óc Eo là văn hóa Phù Nam như một sự khẳng định mặc nhiên về mối quan hệ.
 
    Đến nay, chưa thể nói là đầy đủ, song cũng đã có cơ sở khoa học để tin rằng:
 
    - Trên châu thổ ĐBSCL đã có cư dân sinh sống từ rất sớm, ngay từ những thế kĩ đầu Công nguyên. Những cư dân cổ này đã phát triển nền văn hóa bản địa của mình và mở rộng giao lưu với thế giới bên ngoài.
 
    - Trên cơ sở đó, họ đã xây dựng nên vương quốc Phù Nam, chủ yếu trên phần lãnh thổ của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Phù Nam là một vương quốc hùng mạnh, vào lọai cổ nhất và thịnh vượng nhất ở Đông Nam Á lúc bấy giờ.
 
    - Nước Phù Nam có quan hệ giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài, đặc biệt là với Ấn Độ. Do chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, cư dân Phù Nam tôn thờ cả đạo Hinđu và đạo Phật. Do đó, đồng bằng sông Cửu Long nghiễm nhiên trở thành một trong những trung tâm Phật giáo và Hinđu giáo quan trọng nhất ở Đông Nam Á thời cổ đại. Theo GS. Lương Ninh “Việc phát hiện số lượng rất lớn các tượng Phật… trên địa bàn của cư dân cổ đồng bằng sông Cửu Long càng khẳng định vị trí một trung tâm Phật giáo thời cổ đại của vương quốc Phù Nam, trình độ văn hóa cao và khả năng sáng tạo của cư dân đồng bằng sông Cửu Long, chủ nhân của vương quốc Phù Nam”5. Nền văn hóa Ấn Độ chứa đựng những yếu tố văn minh và nhân bản tuyệt vời nhất được nhân loại không ngừng phát huy, trong đó có lớp cư dân cổ ởĐBSCL. Nó hòa nhập vào đời sống của cư dân từ tôn giáo, chữ viết đến nghệ thuật kiến trúc – điêu khắc theo cách riêng của mình, hòa bình và êm đẹp.
 
    Sau một thời gian phát triển rực rở, đế chế Phù Nam bắt đầu quá trình tan rã vào cuối thế kỷ VI. Đến thế kỷ VII, do đường buôn bán trên biển chuyển đổi, Phù Nam lâm vào khủng hoảng, suy vong. Lúc bấy giờ nước Chân Lạp do người Khơme xây dựng, vốn là một thuộc quốc của Phù Nam nhưng đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập và nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ Phù Nam ở vùng hạ lưu sông Mê Kông. “Như vậy, từ chổ là một vùng đất thuộc Phù Nam – một quốc gia độc lập hùng mạnh, sau năm 627, vùng đất Nam Bộ đã bị Chân Lạp đánh chiếm”6. Và phần lãnh thổ của vùng ĐBSCL khi xưa cũng không nằm ngoài vòng xoáy của biến cố lịch sử đó, cũng chịu chung số phận tang thương, bị xóa sạch diện mạo nền văn minh cổ xuất hiện sớm nhất ở miền nam bán đảo Đông Dương để bước vào một thời kỳ lịch sử mới.
 
2. Vùng đất Sóc Trăng và mối quan hệ với Phù Nam - Óc Eo
 
2.1. Về mặt di tích
 
    Trong bối cảnh chung đó của khu vực ĐBSCL, vào những thế kỷ đầu Công nguyên, vùng đất Sóc Trăng mặc nhiên cũng mang những dấu ấn sinh hoạt của cư dân cổ Phù Nam – Óc Eo. Mặc dù, những di tích và hiện vật mang dấu ấn của thời kì này ở Sóc Trăng vẫn chưa được phát hiện nhiều.
Theo TS. Lê Thị Liên, trong một nghiên cứu khá đồ sộ về “Nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo  ở ĐBSCL trước thế kỷ X”, thì tại các tinh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (thuộc Minh Hải cũ) mặc dù người Pháp đã phát hiện 17 địa điểm có các di tích và di vật điêu khắc đá7. Nhiều hiện vật phát hiện tại đây đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
 
    Tuy nhiên, ngoài di tích tháp Vĩnh Hưng được phát hiện tại tỉnh Bạc Liêu, có niên đại vào khoảng cuối thế kỉ IX – thuộc giai đoạn hậu Óc Eo, thì hầu như chưa tìm được địa điểm di tích nào ở Sóc Trăng có thể minh chứng rõ cho thời kì lịch sử này. Mặc dù trên lý thuyết, vùng đất này không thể nằm ngoài bối cảnh lịch sử - văn hóa chung của khu vực, tức là không thể nằm ngoài không gian lịch sử của vương quốc Phù Nam và chắc chắn ít nhiều cũng phải chịu sự ảnh hưởng, lan tõa của nền văn hóa Óc Eo. Thế nên, theo tác giả, vùng đất này vẫn còn nhiều giá trị tiềm ẩn về một giai đoạn lịch sử cổ xưa, cần được tiếp tục thăm dò, phát hiện và khai quật.
 
2.2. Về bức tượng nữ thần Laskmi – dấu ấn của thời kì Phù Nam – Óc Eo tại Sóc Trăng
 
    Thành tựu đáng kể nhất của khảo cổ học về Phù Nam-Óc Eo là việc phát hiện các pho tượng – những sản phẩm điêu khắc mang nội dung tôn giáo. Có thể nói cư dân Phù Nam-Óc Eo, liên tục trong nhiều thế kỉ tồn tại của mình, đã tiếp nhận một cách sáng tạo các trường phái nghệ thuật nổi tiếng của Ấn Độ để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Cùng với việc tiếp nhận hai tôn giáo lớn của Ấn Độ là Phật giáo và Hinđu giáo thì nghệ thuật điêu khắc của lớp cư dân  cổ ở đây cũng mang nội dung của hai tôn giáo đó.
 
    Nghệ thuật điêu khắc mang nội dung Hinđu giáo là một hệ thống các hiện vật tượng các vị thần được thờ trong thần điện của đạo Hinđu như thần Vishnu, thần Shiva, thần Brahma, thần Surya; hay các nữ thần Laskmi, nữ thần Uma; các Linga, Yoni và rất nhiều vị thần khác vốn được các tín đồ đạo Hinđu tôn thờ. Những hiện vật tượng này đã được phát hiện, khai quật khắp các tỉnh ở ĐBSCL, trong đó nhiều nhất là ở 3 tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang là minh chứng thuyết phục cho sự ảnh hưởng mạnh mẻ của của Hinđu giáo ở khu vực Tây nam bộ trong những thế kỉ đầu Công nguyên.
 
    Tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng, di tích về giai đoạn Phù Nam – Óc Eo chưa được phát hiện, khai quật nhiều nên những hiện vật liên quan đến giai đoạn này còn rất hạn chế. Tuy nhiên, dù chưa đóng góp nhiều vào kho tàng hiện vật của nền văn hóa Óc Eo, nhưng Sóc Trăng lại là nơi phát hiện và sở hữu một pho tượng nữ thần Laskmi được xếp vào loại hiếm và rất có giá trị trong số hàng ngàn hiện vật của văn hóa Óc Eo.
 
     Trong thần thoại Hinđu giáo, Laskmi là vợ của thần Vishnu – vị thần Bảo vệ trong Tam vị nhất thể (Brahma – Vishnu – Shiva). Trước khi có vai trò này, từ thời kỳ Veda, Laskimi được coi là nữ thần mẹ, được thờ phụng để cầu mong của cải và sự phì nhiêu, dồi dào. Vì thế nữ thần Laskmi được thờ rất phổ biến trong dân gian ở Ấn Độ và Đông Nam Á.
 
     Một số tượng nữ thần được tìm thấy ở ĐBSCL được xác định là tượng Laskmi. Trong số này tượng Laskmi tại chùa Sanke, làng Trường Khánh, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là còn nguyên vẹn nhất và được xếp vào loại hiếm và quý giá nhất trong kho tàng văn hóa Óc Eo. Bởi lẻ, “ở ĐBSCL, tượng nữ thần Laksmi được tìm thấy không nhiều, đa số đều bị gãy, vỡ do thời gian. Các tượng thường có chung một đặc trưng, đó là hông nở, ngực đầy đặn, tượng thường được làm bằng chất liệu đá. Trong số những tượng nữ thần Laksmi được tìm thấy ở ĐBSCL, thì chỉ có duy nhất tượng ở Sóc Trăng còn nguyên vẹn (nay được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ Thuật, có kí hiệu là BTMT 194)”8.
 
    Đây là một tượng tròn hoàn chỉnh trong tư thế đứng thẳng, có hai tay hơi gập lên ngang hông, được nối với hông bằng một đoạn hình trụ tròn tạc liền khối. Tay phải đã gãy mất, tay trái cầm một vật tròn nhỏ. Khuôn mặt hơi dài với cái cằm hơi vuông. Đôi môi cương nghị. Đặc biệt phần thân trên của tượng được thể hiện rất sống động với bộ ngực đầy đặn thon chắc, đôi vai xuôi tròn trặn, cổ mảnh dẻ thon gọn… “Những chi tiết có vẻ cổ điển của tượng, như đôi chân có các ngón xòe ra khiến P.Dupont cho rằng nó liên hệ với các tượng Phù Nam”9. Phong cách hiện thực của tượng cho thấy niên đại mà các học giả Pháp xác định là vào nửa cuối thế kỉ VII hoặc thế kỉ VIII là hơi muộc, vì với phong cách này, rất có thể, pho tượng Laskmi Sóc Trăng sẽ có niên đại sớm hơn rất nhiều.
 
      Như vậy, thông qua những ghi chép trong sử liệu Trung Quốc cùng với những thành tựu khảo cổ suốt hơn nữa thế kỷ qua, đặc biệt là những phát hiện khảo cổ tại một số địa điểm của tỉnh Sóc Trăng, cho thấy đây là một vùng đất có lịch sử lâu đời. Thậm chí, ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên, vùng đất này đã là một phần lãnh thổ của nhà nước cổ Phù Nam và góp phần sáng tạo nên nền văn hóa Óc Eo rực rỡ. Trong thời kì Phù Nam – Óc Eo, hòa theo xu thế chung của khu vực, nơi đây cũng đón nhận sự ảnh hưởng sâu sắc từ các tôn giáo Ấn Độ, đặc biệt là đạo Hinđu của nguời Ấn Độ. Tuy nhiên, ngoài pho tượng nữ thần Laskmi quý hiếm, các hiện vật khảo cổ về Hinđu được tìm thấy ở Sóc Trăng khá khiêm tốn so với với những di chỉ khảo cổ khác ở ĐBSCL Thiết nghĩ, đây là một vấn đề cần được tiếp tục quan tâm, nghiên cứu để bức tranh về một nền văn hóa cổ đã từng tồn tại ở mảnh đất Sóc Trăng được soi rọi rõ hơn dưới ánh sáng khoa học.
 
 
CHÚ THÍCH
 (1) Nguyễn Thị Song Thương, Đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo Tây Nam Bộ (Qua tư liệu khảo cổ học), Luận án Tiến sĩ, 2015, tr.84
(2) Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Lược sử vùng đất Nam bộ, Nxb Thế giới, HN, 2006, tr.14
(3) Lương Ninh: Vương quốc Phù Nam lịch sử và văn hóa, viện Văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin, 2005, HN, tr26
(4) Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.14
(5) Lương Ninh: Kết quả bước đầu của chuơng trình nghiên cứu Nam Bộ (TC Khảo cổ học,   4/1996), tr66
(6) Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr.21
(7) L.Malleret, L’archéologie du Delta du Mékong, T.I, Paris, 1959, tr.139
(8) Nguyễn Thị Song Thương, Sđd, tr.84
(9) L.Malleret, Sđd, tr.436
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 10


Hôm nayHôm nay : 1313

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 33105

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1955250