14:11 +07 Thứ năm, 27/06/2019

1   Menu

1   Đăng nhập thành viên

Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học » Nghiên cứu - Trao đổi

Bàn về thuật ngữ “người thi hành công vụ” trong các văn bản pháp luật hiện nay

Thứ ba - 18/12/2018 08:27

                                            Nguyễn Trang Hòa
                            Trưởng Khoa Nhà nước và pháp luật
1. Đặt vấn đề
 
     Người thi hành công vụ là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong các văn bản pháp luật cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên hiện nay, thuật ngữ này vẫn còn có nhiều quan điểm cũng như cách hiểu khác nhau. Xét trên phương diện pháp luật, có rất nhiều quy định liên quan đến thuật ngữ này. Trong đó, có một số quy định đề cập và “giải thích” một cách trực tiếp nội hàm. Nhưng hầu như các quy định này đều chưa thống nhất với nhau do có sự khác biệt liên quan đến giới hạn những chủ thể nào sẽ có thẩm quyền thực thi công vụ - tức ai sẽ được xem là người thi hành công vụ. Do vậy, việc làm rõ cũng như thống nhất phạm vi của những chủ thể được xác định là người thi hành công vụ là điều rất cần thiết, nhằm đảm bảo tính thống nhất hơn giữa các văn bản pháp luật với nhau. Và kéo theo đó là những quyền, lợi ích, nghĩa vụ cũng như các trách nhiệm có liên quan sẽ được xác định một cách rõ ràng, tường minh hơn.
 
2. Quy định về “người thi hành công vụ” trong các văn bản pháp luật hiện nay
 
     Hiểu theo nghĩa rộng, thì công vụ là bất cứ việc nào được giao trong cơ quan, tổ chức, xí nghiệp sản xuất đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang và cả tổ chức xã hội…nhằm phục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích nhà nước đều được coi là thực hiện công vụ[1]. Theo cách hiểu này, thì công vụ không chỉ giới hạn trong việc thực thi quyền lực công, mà còn bao hàm cả những việc chung của cộng đồng cũng như các tổ chức xã hội. Tính chất “công” ở đây không nhất thiết là quyền lực công. Còn theo nghĩa hẹp, công vụ chỉ gắn liền với quyền lực công. Và đây là cách hiểu được nhiều người đồng tình và sử dụng phổ biến hơn. Ở Việt Nam, có thể thấy do đặc thù của hệ thống chính trị, nên công vụ trên thực tế được thực thi bởi nhiều nhóm cơ quan, tổ chức như: cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức…v.v.
 
    Tại Điều 2 Luật CBCC năm 2008 có quy định về “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức” như sau: “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan”. Như vậy, quy định này mặc dù đề cập đến hoạt động công vụ nhưng chỉ đề cập đến hoạt động công vụ của hai nhóm đối tượng là cán bộcông chức. Tuy nhiên, nếu xét về các nhóm đối tượng được ghi nhận trong Luật CBCC năm 2008 thì ngoài cán bộ, công chức thì còn thêm các nhóm đối tượng khác như: “cán bộ cấp xã”, “công chức cấp xã” và “những người hoạt động không chuyên trách”. Vậy vấn đề đặt ra là: hoạt động theo quy định pháp luật của cán bộ cấp xã, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách có phải là hoạt động công vụ hay không? Để từ đó xác định họ có phải là người thi hành công vụ hay không?.
 
    Còn theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì, “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án”[2]. Theo quy định này, có thể thấy: phạm vi người thi hành công vụ chỉ giới hạn đối với một số chủ thể đang làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án. Do quy định này được ghi nhận trong một văn bản luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nên các chủ thể thực thi công vụ được xác định chỉ gắn với nhà nước hoặc chủ thể khác khi được nhà nước trao quyền mà không bao gồm các chủ thể là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội…v.v.
 
    Ngoài ra, còn có một số văn bản pháp luật khác có “giải thích” thuật ngữ “người thi hành công vụ”. Đơn cử như Nghị định 208/2013/NĐ-CP về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ. Theo Nghị định này, thì “người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội”[3]. Như vậy, theo Nghị định 208/2013/NĐ-CP, thì thuật ngữ “người thi hành công vụ” có phạm vi rộng hơn hơn hẳn so với một số văn bản pháp luật khác đã kể trên vì có bao hàm cả một số chủ thể trong lực lượng vũ trang…v.v.
 
    Tóm lại, có thể thấy, thuật ngữ “người thi hành công vụ” hiện được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng cách hiểu và phạm vi còn nhiều điểm chưa thống nhất. Điều này có thể gây ra những trở ngại, khó khăn trong quá trình áp dụng các văn bản pháp luật này trên thực tế. Vì vậy, nhu cầu thống nhất quy định về “người thi hành công vụ” là hết sức cần thiết.
 
3. Kiến nghị
 
    Như đã đề cập, do đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam nên hoạt động công vụ được thực thi bởi nhiều nhóm cơ quan khác nhau trong hệ thống chính trị. Vì vậy, tính chất công vụ cần phải được xác định phù hợp với mô hình tổ chức của hệ thống chính trị Việt Nam, tức công vụ phải bao gồm công vụ của cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Từ đó, việc xác định “người thi hành công vụ” sẽ có tính hệ thống và thống nhất hơn. Các chủ thể này hiện bao gồm: các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ cấp xã, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách, viên chức. Trong lực lượng vũ trang (Quân đội và Công an) bao gồm: sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng, chiến sỹ…v.v.
 
    Tựu chung lại, thuật ngữ “người thi hành công vụ” phải được xác định thống nhất một cách tổng thể hơn trong các văn bản pháp luật. Cụ thể, cần xác định: “người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức ở trung ương, địa phương và những người làm việc trong lực lượng vũ trang được giao thẩm quyền thực thi các nhiệm vụ vì lợi ích chung theo quy định của pháp luật”./.
 
 
Tài liệu tham khảo
1. Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
2. Luật Viên chức 2010.
3. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
4. Trung Hiếu, “Mâu thuẫn về khái niệm người thi hành công vụ”, https://www.thesaigontimes.vn .
 


[1] Viện Nghiên cứu Hành chính, Một số thuật ngữ hành chính, Nxb Thế giới, HN, 2000, tr.129.
[2] Khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
[3] Khoản 1 Điều 3.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 83

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 80


Hôm nayHôm nay : 1460

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 42836

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1802572