15:33 +07 Thứ sáu, 18/01/2019

1   Đăng nhập thành viên

Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới

Thứ tư - 26/12/2018 14:52

                                          TS Nguyễn Minh Sang
                              Phó trưởng Khoa Lý luận Mác – Lênin

                                                                
    Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh... là những khát vọng lớn lao của nhân loại và đồng thời của cả dân tộc Việt Nam nhiều thế kỷ nay – đây chính là khát vọng hướng tới chủ nghĩa xã hội (CNXH). Công cuộc xây dựng CNXH từ ngày lập nước đến nay của Đảng và nhân dân ta là quá trình không ngừng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam. Đó cũng là quá trình không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để vừa xây dựng CNXH trong hiện thực, vừa hoàn thiện những đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) về mặt lý luận của Đảng qua các kỳ đại hội. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin đi vào phân tích quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về những đặc trưng của CNXH trong thời kỳ đổi mới.
 
    Trước đổi mới năm 1986 ở Việt Nam việc nhận thức và vận dụng lý luận Mác - Lênin về CNXH và xây dựng CNXH chỉ mới dừng lại ở những nét khái quát nhất. Mô hình XHCN mà Việt Nam xây dựng thực chất là mô hình CNXH kiểu “Xô Viết”. Điều này cũng phản ánh những hạn chế trong lý luận của Đảng ta về CNXH ở Việt Nam.
 
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đã nghiêm khắc tự phê bình chỉ ra những yếu kém trong tư duy lý luận của Đảng nói chung, tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nói riêng. Cũng từ đây Đảng ta đã chủ trương phải đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy nhận thức về lý luận Mác - xít, trong đó có tư duy nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
 
    Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở cương lĩnh này, lần đầu tiên Đảng ta đã xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
 
     (1) Do nhân dân lao động làm chủ; (2) Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; (3) Có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; (4) Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công; làm theo năng lực, hưởng theo lao động; có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; (5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; (6) Có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”. (Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII - Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự Thật Hà Nội. 1991).
 
    Sau 15 năm thực hiện Cương lĩnh, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung vào văn kiện Đảng về các đặc trưng của xã hội XHCN để có 8 đặc trưng. Tuy nhiên, phải đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI sau 20 năm thực hiện cương lĩnh 1991, Đảng ta mới bổ sung, điều chỉnh các đặc trưng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) thành 8 đặc trưng cụ thể là:
 
    Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là đặc trưng nói lên mục tiêu tổng quát của CNXH, đặc trưng này hoàn toàn mới bổ sung so với Cương lĩnh 1991, có tiếp thu tinh thần của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, trong đó có quan tâm đến cả trật tự diễn đạt các mục tiêu trong hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cụ thể, Trung Ương đã đặt từ dân chủ trước cụm từ công bằngvăn minh. Điều này có nghĩa là Đảng ta đã xác định: (1) bản chất chế độ ta là chế độ dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, vì thế dân chủ phải được đặt ở vị trí xứng đáng, có phát huy được dân chủ rộng rãi thì mới có có động lực to lớn để xây dựng CNXH; (2) xã hội nếu có dân chủ ắt sẽ có công bằng và văn minh, càng mở rộng dân chủ thì càng tiệm tiến đến mục tiêu công bằng và văn minh.
 
    Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ. Đặc trưng này kế thừa chọn lọc điều chỉnh từ đặc trưng đã có từ Cương lĩnh 1991 và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Để mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Cương lĩnh bổ sung, phát triển lượt bỏ đi cụm từ “lao động” sau cụm từ “nhân dân” để có đặc trưng do nhân dân làm chủ. Điều này có nghĩa Đảng ta muốn mở rộng nội hàm chủ thể người làm chủ ở nước ta, người làm chủ ở nước ta phải là nhân dân chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhân dân lao động.
 
   Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Đây là đặc trưng được điều chỉnh bổ sung từ việc bỏ phiếu kín lấy ý kiến từ đa số đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. So với Cương lĩnh 1991, đặc trưng kinh tế này có sự điều chỉnh trong diễn đạt về quan hệ sản xuất: không diễn đạt “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” mà là “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Đây là thể hiện cách nhìn nhận mới về chế độ sở hữu trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Qua việc điêu chỉnh và bổ sung này Đảng ta muốn: (1) phát huy tất cả mọi nguồn lực thuộc các hình thức sỡ hữu và các thành phần kinh tế khác nhau nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng CNXH chứ không chỉ bó hẹp ở hình thức sở hữu công và thành phần kinh tế nhà nước, tuy nhiên thành phần kinh tế nhà nước vẫn phải giữ được vai trò chủ đạo và nòng cốt để đảm bảo được định hướng XHCN; (2) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới, qua đó thu hút nhiều nguồn lực, đặc biệt là vốn và khoa học công nghệ để xây dựng CNXH. Như vậy, bỏ đi cụm từ công hữu trên những tư liệu sản xuất chủ yếu và thay bằng cụm từ quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp không có nghĩa là Đảng ta từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH như các thế lực thù địch rêu rao mà thực chất là chỉ nhằm thay đổi cách thức và biện pháp xây dựng CNXH để hướng tới CNXH nhanh hơn.
 
    Đặc trưng thứ tư, có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc trưng này thể hiện sự nhất quán và tiếp tục kế thừa đầy đủ nội dung của đặc trưng văn hóa trong XHCN ở Việt Nam đã được Cương lĩnh 1991 xác định cho đến nay. Đảng ta xem đặc trưng này là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng CNXH ở nước ta - những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc tộc sẽ trở thành động lực to lớn cho quá trình xây dựng CNXH, đồng thời cũng thẩm thấu vào bản chất của xã hội tương lai mà chúng ta hướng tới.
 
 
    Đặc trưng thứ năm, con người có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện. Đây là đặc trưng về quan hệ xã hội quan hệ giữa người với người trong xã hội XHCN ở Việt Nam trên cơ sở kế thừa nội dung điều chỉnh và lược bỏ một số cụm từ mà Cương lĩnh 1991 đã diễn đạt để thể hiện gọn rõ hơn. Qua cách diễn đạt này của Trung ương cho thấy: khi con người được hưởng tự do, ấm no và hạnh phúc thì cũng có nghĩa rằng con người không còn phải chịu áp bức, bóc lột và bất công, vì thế không cần thiết giữ lại cụm từ: con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công như Cương lĩnh 1991 đã nêu.
 
    Đặc trưng thứ sáu, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Đặc trưng này có sự kế thừa nội dung đã được xác định từ Cương lĩnh 1991 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhưng có điểm mới là: (1) Không diễn đạt các dân tộc trong nước mà thay bằng các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam, cách diễn đạt như thế có nghĩa là Đảng ta mở rộng thêm nội hàm của khối đại đoàn kết dân tộc (trong khối đại đoàn kết dân tộc, không thể thiếu một lực lượng quan trọng là kiều bào ta ở nước ngoài); (2) bổ sung thêm từ tôn trọng sau cụm từ đoàn kết để xác định phong phú hơn nội dung bao trùm của chính sách dân tộc, giải quyết đúng đắn các quan hệ tộc người trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam và đặc biệt là đảm bảo được nguyên tắc quyền bình đẳng dân tộc của Lênin; (3) thay cụm từ cùng tiến bộ bằng cụm từ cùng phát triển để việc thực hiện chính sách dân tộc mang tính thiết thực và lượng hóa hơn, vì tiến bộ là chỉ sự thay đổi mang tính chung chung còn phát triển thì mang tính cụ thể, rõ ràng và thiết thực hơn. 
 
 
   Đặc trưng thứ bảy, có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Đây là đặc trưng hoàn toàn mới được bổ sung so với Cương lĩnh 1991. Sở dĩ Trung ương phải đưa xây dựng nhà nước pháp quyền thành một đặc trưng của CNXH ở nước ta là bởi vì xuất phát từ thực tiễn của quá trình xây dựng CNXH ở nước ta cũng như quá hình hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cần cần phải có một nhà nước đủ mạnh, nhà nước nghiêm minh, nhà nước đặt trên nền tảng pháp luật… thì mới đủ sức quản lý đất nước hướng đến hoàn thiện căn nhà CNXH tương lai – nhà nước ấy không thể là nhà nước nào khác hơn nhà nước pháp quyền XHCN.
 
   Đặc trưng thứ tám, có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới. Đặc trưng này có kế thừa nội dung Cương lĩnh 1991 và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Điểm khác so với Cương lĩnh 1991 là diễn đạt có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới thay cho quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới để làm rõ hơn việc hội nhập quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
 
   Đại hội XII về cơ bản các đặc trưng CNXH ở nước ta không có sự sửa đổi, bổ sung lớn.
 
   Như vậy, qua hơn 30 năm đổi mới đất nước nhận thức của Đảng ta về CNXH đã có bước phát triển. Những nhận thức, lý luận đó ngày càng đầy đủ, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Từ những nhận thức đúng đắn, đầy đủ đó góp phần làm cho con đường đi lên CNXH ở Việt Nam càng ngày càng rõ nét.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật. Hà Nội. 1986.
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb. Sự Thật. Hà Nội. 1991.
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII – Cương Lĩnh xây dựng đất ước trong thời thì qua độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự Thật. Hà Nội. 1991.
4. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 1996.
5. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2001.
6. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2006.
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2011.
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI – Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2011.
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2016.
10. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh – Chương trình Trung cấp Lý luận Chính trị, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2017
 
 
 
 
 
 
 
 
 



Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 75


Hôm nayHôm nay : 398

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 12457

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1562067