22:46 +07 Thứ hai, 21/09/2020

1   Menu

1   Đăng nhập thành viên

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học

Những kết quả nổi bật của việc thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm 2019 và một số vấn đề đặt ra trong thời gian tới

Thứ ba - 31/12/2019 08:09

   Sóc Trăng nằm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó nhiều nhất là đồng bào Khmer. Trong năm 2019 với sự quan tâm đặc biệt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sóc Trăng cũng như các cấp, các ngành trong toàn tỉnh về thực hiện chính sách dân tộc. Và hơn hết là sự vươn lên trong cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số đã làm việc thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc đạt nhiều kết quả nổi bật.

   Về đời sống của đồng bào: Năm 2019, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển; tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Sóc Trăng là 7,3%, thu nhập bình quân đầu người đạt 46 triệu đồng/người/năm. Hiện nay, toàn tỉnh có 11.368 hộ thoát nghèo, giảm số hộ nghèo trong toàn tỉnh xuống còn 15.890 hộ, chiếm 4,91% tổng số hộ; trong đó, hộ nghèo dân tộc Khmer là 7.694 hộ, chiếm 7,67% tổng số hộ Khmer (giảm 5,31% so với năm 2018); hộ nghèo dân tộc Hoa là 411 hộ, chiếm 2,65% tổng số hộ Hoa (giảm 1,17% so với năm 2018); tổng số hộ cận nghèo là 36.313 hộ, tỷ lệ 11,23%, trong đó, hộ cận nghèo Khmer là 14.747 hộ, tỷ lệ 15,21% (giảm 0,50% so với năm 2018), số hộ cận nghèo Hoa là 866 hộ, tỷ lệ 5,59% (giảm 0,42% so với năm 2018).

   Về văn hóa: Toàn tỉnh có 290.013/326.803 hộ gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 88,74%; 10 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, 6 phường đạt chuẩn văn minh đô thị; có 722/775 khóm, ấp được công nhân đạt danh hiệu, giữ vững danh hiệu khóm, ấp văn hóa, đạt tỷ lệ 93,16%. Bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số được giữ gìn và phát huy. Các thiết chế văn hóa trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm đầu tư xây dựng; các di tích văn hóa, lịch sử được quan tâm bào tồn (toàn tỉnh có 14 di tích của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có 10 di tích của dân tộc Khmer và 04 di tích dân tộc Hoa; 02 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận gồm Nghệ thuật sân khấu Dù Kê của người Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Nghệ thuật sân khấu Rô Băm của người Khmer ở Sóc Trăng); các lễ hội theo phong tục tập quán và lễ hội tôn giáo được tổ chức theo nghi thức truyền thống, đúng pháp luật. Các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao được tổ chức sôi nổi, thiết thực chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm và các sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh và cả nước, nhất là đã tổ chức thành công Tết Chôl Chnăm Thmây, Lễ Sene Đôl Ta, Lễ hội Oóc Om Bóc - Đua ghe Ngo lần thứ IV, Khu vực đồng bằng sông Cửu Long - năm 2019 và Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp huyện, cấp tỉnh lần thứ III năm 2019.

   Về giáo dục: Tỉnh đã triển khai thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ chính sách về giáo dục và đào tạo. Không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo nhất là hệ thống trường dân tộc nội trú các cấp. Tính đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có 10 trường phổ thông Dân tộc nội trú; 01 trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ đào tạo nguồn cán bộ dân tộc Khmer cho các tỉnh trong khu vực. Năm học 2019 - 2020, có tổng số học sinh đầu năm ra lớp là 265.731 em, trong đó, số học sinh dân tộc thiểu số là 98.915 em (bao gồm: học sinh dân tộc Khmer là 84.421 em, học sinh dân tộc Hoa là 14.494 em).

   Công tác tuyển sinh học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học, dự bị đại học, dân tộc nội trú luôn được tỉnh quan tâm. Năm 2019, số học sinh dân tộc thiểu số được xét tuyển vào các trường phổ thông dân tộc nội trú là 980 em; có 66 học sinh dân tộc thiểu số trúng tuyển vào trường dự bị Đại học. Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ đã chiêu sinh học viên từ các tỉnh trong khu vực Nam bộ cho năm học 2019 - 2020, hiện có 170 học viên theo học. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tỉnh chỉ đạo Chi hội các huyện, thị xã, thành phố duy trì mở các lớp Pali, Vini có 501 vị sư sãi theo học (hệ Pali Rong có 482 vị, hệ Thoma Vini có 19 vị); chỉ đạo các chùa Phật giáo Nam tông trong tỉnh mở các lớp dạy chữ Khmer trong dịp hè với 195 lớp có 5.901 sư sãi và con em Phật tử trong phum, sróc theo học.

   Về y tế: Có 109/109 xã, phường, thị trấn đều có Trạm Y tế; trong đó có 105/109 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế; 97/109 Trạm Y tế có bác sĩ; 775/775 khóm, ấp có cán bộ y tế, bình quân có 7,25 bác sĩ/10.000 dân, có 26,44 giường bệnh/10.000 dân. Tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt là 98,5%, trong đó, tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QCVN 02 Bộ là 57%. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho đồng bào vùng dân tộc và vùng xa, vùng khó khăn tiếp tục được quan tâm thực hiện. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế dự phòng trong vùng đồng bào dân tộc, công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường được tăng cường. Trong năm, toàn tỉnh đã cấp phát 60.154 lượt thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, với tổng kinh phí là 46,24 tỷ đồng; cấp 37.060 lượt thẻ bảo hiểm y tế cho người thuộc hộ cận nghèo, với tổng kinh phí là 28,53 tỷ đồng. Ngành y tế các cấp và các ngành chức năng có liên quan đã tổ chức khám và cấp thuốc miễn phí ngoại viện cho người nghèo; tổ chức đợt chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình ở các xã, phường, thị trấn trong tỉnh nhất là bà con nghèo ở vùng sâu, vùng xa.

   Về an ninh trật tự: Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh nói chung và trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng tiếp tục ổn định. Các ngành chức năng đã tăng cường công tác nắm tình hình, quản lý địa bàn, triển khai các phương án bảo đảm an ninh chính trị, bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị tại địa phương. Tuy nhiên, trong năm 2019 tình hình an ninh trật tự trong đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn xảy ra các vụ phạm pháp hình sự, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm, số lượng vụ việc không nhiều và ít có vụ việc khiếu nại phức tạp, gay gắt. Trong năm, đã tiếp nhận 160 đơn thư khiếu nại, tố cáo của người dân tộc thiểu số, đã giải quyết 160/160. Tiếp nhận 198 vụ khiếu kiện, trong đó, có 19 vụ khiếu kiện của người dân tộc thiểu số. 

   Có được kết quả trên có thể nhận định như sau: cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng tích cực triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đã góp phần và tạo cơ hội cho người dân có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và phát huy nội lực để phát triển kinh tế, mở rộng quy mô sản xuất, giúp kinh doanh hộ gia đình trên địa bàn tỉnh nói chung và trong đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng tiến bộ rõ nét, kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc được quan tâm đầu tư, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới. Đầu tư xây dựng hệ thống công trình hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu; các công trình thủy lợi phục vụ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản; các công trình giao thông, y tế, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định, công tác xây dựng hệ thống chính trị ở các địa bàn có đông đồng bào dân tộc được chú trọng. Nhân dân trong tỉnh nói chung và đồng bào dân tộc thiểu só nói riêng đều thể hiện lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

   Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm: Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp, nhất là bệnh dịch tả heo Châu Phi chưa được phòng, chống hiệu quả; Văn bản hướng dẫn của Trung ương đối với các chương trình, dự án, chính sách dân tộc còn chậm; việc phân bổ vốn thực hiện chưa kịp thời nên triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn; Tổ chức và cán bộ làm công tác dân tộc chưa ổn định; trình độ năng lực của một số cán bộ làm công tác dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; một số người dân thiếu kinh nghiệm quản lý nguồn vốn, các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao; nhiều hộ không có đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt; Công tác giảm nghèo đạt kết quả tốt, nhưng tính bền vững chưa cao do nhận thức của một số hộ còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, không tự lực vươn lên thoát nghèo. Số hộ thoát nghèo sang cận nghèo chiếm tỷ lệ khá cao; Công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao ý thức tự lực, tự cường, thực hành tiết kiệm, đẩy mạnh sản xuất trong đồng bào dân tộc thiểu số tuy có chuyển biến nhưng chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

   Nguyên nhân của hạn chế: Công tác tuyên truyền chính sách dân tộc hiệu quả chưa cao; chưa chủ động xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể để tập trung thực hiện chính sách dân tộc; công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ; trình độ dân trí còn thấp, phương thức canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, chậm đổi mới, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn mặt hạn chế; sự tác động của biến đổi khí hậu và giá nông sản không ổn định như: Hạn hán, xâm nhập mặn, được mùa mất giá.

   Để công tác dân tộc trên địa bàn Sóc Trăng có kết quả tốt hơn trong thời gian tới cần quan tâm thực hiện tốt một số vấn đề sau:

   Một là, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong đồng bào dân tộc thiểu số.

   Cụ thể là tuyên truyền công tác dân tộc và phổ biến pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc. Chú trọng công tác tuyên truyền vận động quần chúng, phát huy vai trò của các vị chức sắc, chức việc, người có uy tín trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường phối hợp thực hiện tốt công tác tuyên tryền trong các dịp lễ, hội của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu, ứng phó với tình hình xâm nhập mặn trong sản xuất, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

   Hai là, tập trung phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, nâng cao mức sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

   Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc; tập trung các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số; Tổ chức thực hiện tốt các chính sách dân tộc gắn với việc đẩy mạnh Chương trình xây dựng nông thôn mới; Đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ ở vùng dân tộc thiểu số; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc thiểu số. Kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc. Chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc ở các cấp; lồng ghép các chương trình, dự án khác trên địa bàn để đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã khó khăn, phục vụ đời sống, sản xuất.

   Ba là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về văn hóa - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

   Đối với giáo dục, cần thực hiện có hiệu quả và kịp thời các chế độ chính sách về giáo dục dân tộc như: Chính sách hỗ trợ đối với con em dân tộc thiểu số và giáo viên vùng đặc biệt khó khăn, chế độ chính sách trong hệ thống trường dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh; đầu tư cơ sở hạ tầng về giáo dục vùng dân tộc; tiếp tục chú trọng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy song ngữ là người dân tộc ở các cấp học; duy trì tốt việc dạy tiếng dân tộc theo Nghị định 82/2010/NĐ-CP của Chính phủ tại các trường vùng dân tộc thiểu số, bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách đặc thù hỗ trợ người dạy tiếng và chữ Khmer vào dịp hè; tiếng và chữ Hoa tại các trường ngoài hệ thống các trường công lập trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng .

   Đối với y tế, tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới y tế vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh các hoạt động y tế dự phòng, vận động nhân dân phòng ngừa dịch bệnh, giữ gìn vệ sinh môi trường. Thực hiện tốt việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và thực hiện tốt chế độ khám, chữa bệnh cho người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn.

   Đối với văn hóa, cần tiếp tục thực hiện tốt công tác giữ gìn, bảo tồn, tôn vinh và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt công tác quản lý và tổ chức lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện cho nhân dân tham gia sinh hoạt, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân và bảo tồn văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt tổ chức tốt các kỳ Lễ hội Oóc Om Bóc - Đua ghe Ngo. Tập trung khai thác, phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát triển văn hóa của các dân tộc trong tỉnh.
 
   Bốn là, tiếp tục tăng cường công tác an ninh - quốc phòng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

   Chú trọng thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Trung ương về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nhất là tại các địa bàn trọng điểm. Chỉ đạo các ngành tăng cường công tác cơ sở để chủ động tuyên truyền, vận động, giáo dục người dân ý thức cảnh giác cách mạng, tích cực tham gia phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc ở địa phương và nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng, đời sống và nhu cầu phát sinh mới trong đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc.

   Năm là, giải quyết khiếu nại, tố cáo của đồng bào dân tộc thiểu số kịp thời, dứt điểm đúng quy định

   Tập trung giải quyết hiệu quả đơn thư khiếu nại, tố cáo của đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế tình trạng khiếu nại tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài, vượt cấp. Thường xuyên tổ chức đối thoại với công dân trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là những vụ khiếu kiện đông người liên quan đến tín ngưỡng, dân tộc, tôn giáo.
 
  
(Nguồn về số liệu từ báo cáo về kinh tế văn hóa xã hội và công tác dân tộc của UBND tỉnh)

Tác giả bài viết: ThS Phan Thị Phượng - Phó Trưởng khoa Lý luận cơ sở

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 2359

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 77059

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2673224