12:22 +07 Thứ tư, 17/07/2019

1   Menu

1   Đăng nhập thành viên

Học viện hành chính
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SocTrang.gov.vn
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
csdl.thutuchanhchinh.vn/

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu Khoa học

Chính sách an sinh xã hội ở nước ta, nhìn từ góc độ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ ba - 11/12/2018 10:28

                                                   ThS Phạm Chánh Tông
                                         Giảng viên Khoa Lý luận Mác - Lênin
                                                   
 
      Chính sách xã hội ở nước ta là một loại chính sách do Đảng, Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị - xã hội ban hành, nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội của con người, giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra và thực hiện bình đẳng, công bằng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người…
 
      Vậy, chính sách xã hội là một loại chính sách nhằm chăm lo và định hướng cho các vấn đề xã hội để ổn định xã hội và hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn là công bằng, bình đẳng và phát triển toàn diện của con người. Trong điều kiện của một đất nước đang phát triển, còn chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, thiên tai và dân số đông, dân tộc thiểu số chậm phát triển, đời sống khó khăn thì việc phát huy tính hiệu quả trong thực hiện chính sách xã hội cần phải tập trung làm tốt phần cốt lõi của nó là vấn đề an sinh xã hội.
 
      Ngày nay, nước ta đang trong giai đoạn định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội, an sinh xã hội là một phần rất quan trọng để giúp định hướng cho xã hội tốt đẹp đó. Chúng ta, đã xác định lấy học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và đất nước. Vậy, học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho chính sách an sinh xã hội ở nước ta hiện nay như thế nào? Qua quá trình nghiên cứu, vận dụng trong giảng dạy lý luận chính trị, người viết xin chia sẻ về các quan điểm trong học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đang đề cập. 
 
      Chủ nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết đấu tranh vì mục tiêu tối thượng là giải phóng con người khỏi áp bức bất công, giải phóng giai cấp khỏi sự bóc lột, xây dựng một xã hội tốt đẹp, đã đặt nền móng cho sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đó chính là nền tảng của lý luận chân chính và khoa học nhất về an sinh xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin.
 
      Chính C.Mác đã nêu lên những quan điểm làm căn cứ lý luận cho việc xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội trong chủ nghĩa xã hội, ông xem đó là một chế độ xã hội tiến bộ và công bằng hơn, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, sẽ thay thế cho chế độ tư bản đương thời, mặc dù quá trình thay thế ấy sẽ phải trải qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu và lâu dài. Thật vậy, trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gô-ta viết năm 1875, sau khi bác bỏ quan niệm phi thực tế của phái Lát-xan - một phái trong Đảng Công nhân Dân chủ - xã hội Đức hồi bấy giờ - cho rằng trong chủ nghĩa xã hội mỗi người lao động phải nhận được “thu nhập không bị cắt xén của lao động”, C.Mác đã đưa ra những luận điểm có tầm bao quát rộng về việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội nhằm thực hiện công bằng xã hội và an sinh xã hội.
 
      Theo C. Mác, trước khi phân phối cho người lao động, “trong tổng sản phẩm đó, phải khấu đi: Một là, phần để thay thế những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng; Hai là, một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất; Ba là, một quỹ dự trữ hoặc quỹ bảo hiểm đề phòng những tai nạn, những sự rối loạn do các hiện tượng tự nhiên gây ra, v.v… Những khoản khấu trừ như thế vào “thu nhập không bị cắt xén của lao động” là một tất yếu kinh tế, và khấu trừ nhiều hay ít là tùy theo những tư liệu và những lực lượng hiện có... Còn lại phần kia của tổng sản phẩm thì dành làm vật phẩm tiêu dùng. Trước khi tiến hành phân phối cho cá nhân, lại còn phải khấu trừ: Một là, những chi phí quản lý chung, không trực tiếp thuộc về sản xuất...; Hai là, những khoản dùng để cùng chung nhau thỏa mãn những nhu cầu, như trường học, cơ quan y tế, v.v..; Ba là, quỹ cần thiết để nuôi dưỡng những người không có khả năng lao động, v.v.., tóm lại là những cái thuộc về việc mà ngày nay, người ta gọi là cứu tế xã hội của nhà nước”[1].
 
      Từ những luận điểm nêu trên của C. Mác, ta có thể rút ra một số nhận thức có liên quan đến vấn đề mà ngày nay xã hội học hiện đại quy vào ba chức năng của hệ thống chính sách an sinh xã hội trong mọi quốc gia trên thế giới. Đó là phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro cho các công dân của mỗi nước.
 
       Dĩ nhiên, do hạn chế của điều kiện lịch sử cách đây hơn 150 năm về trước, C.Mác chưa thể dự báo được đầy đủ về sự phát triển hết sức phong phú và đa dạng hệ thống chính sách an sinh xã hội như ngày nay ở nhiều nước - nhất là những nước theo trào lưu dân chủ - xã hội ở Bắc Âu đang thực hiện. Ngoài ra, do quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen thời bấy giờ còn nghiêng về việc xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội nhà nước, nên các ông đã nêu lên ý tưởng “phải biến việc bảo hiểm cho công nhân hoàn toàn thành công việc của nhà nước”[2] mà chưa thấy sự cần thiết phải xã hội hóa các nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội.
 
     Lênin cũng có những quan điểm cơ bản là nền tảng trong chính sách an sinh xã hội. Trong một số tác phẩm của mình, khi đề cập đến vấn đề công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin cho rằng: “Như thế là trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội), “pháp quyền tư sản” chưa bị xóa bỏ hoàn toàn mà chỉ xóa bỏ một phần, chỉ bị xóa bỏ với mức độ phù hợp với cuộc cách mạng kinh tế đã được hoàn thành, nghĩa là chỉ trong phạm vi tư liệu sản xuất thôi. “Pháp quyền tư sản” thừa nhận tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân. Chủ nghĩa xã hội biến tư liệu sản xuất thành tài sản chung”[3].
 
     Đặc biệt, Lênin cũng rất chú ý đến công bằng trong phân phối lao động. Ông cho rằng “người nào không làm thì không có ăn”. Nguyên tắc này đã được thực hiện “số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số lượng sản phẩm ngang nhau”.
 
     Theo quan điểm của Lênin thì phải thiết lập những tiền đề kinh tế càng cao cho việc thực hiện công bằng xã hội, không thể có công bằng xã hội đích thực trong một xã hội nghèo khổ, kém phát triển. Đồng thời, Lênin cũng đề cập đến một xã hội giàu có, của cải dư thừa nhưng lại thiếu công bằng trong phân phối. Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhưng không phải là duy nhất để thực hiện công bằng xã hội. Đây là quan điểm khác biệt cơ bản của Lênin trên nền tảng lý luận của Mác về công bằng xã hội, nó tiến bộ rất nhiều và khoa học khi nói về công bằng xã hội.
 
     Bên cạnh đó, Lênin cũng chỉ ra rằng, trong chủ nghĩa xã hội thì công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế đóng vai trò cơ sở quyết định các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội,… cụ thể là phương diện quan hệ giữa cống hiến (thực hiện nghĩa vụ) và hưởng thụ (được hưởng quyền lợi).
 
     Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong chủ nghĩa xã hội thì công bằng xã hội là làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít; sản phẩm được phân phối theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”; và cũng cần thực hiện phân phối lại với các đối tượng không có khả năng lao động, đối tượng rủi ro. Những quan điểm này của C.Mác và Lênin về công bằng xã hội là tiền đề cơ sở lý luận và thực tiễn trong thực hiện chính sách an sinh xã hội trong xã hội ngày nay ở nước ta.
 
     Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những tư tưởng căn bản, tiến bộ làm nền tảng cho cơ sở lý luận về vấn đề về an sinh xã hội nước ta sau này. Vào nửa đầu thế kỷ XX, trong hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ đó, Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam để tiến hành cách mạng dân tộc - dân chủ, đánh đổ ách thống trị của thực dân - phong kiến, giành độc lập cho Tổ quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Mục đích chính là nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, làm cho nhân dân ta thoát khỏi nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những thuần phong mỹ tục được phát huy, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ. Chỉ ra con đường đúng đắn và mục tiêu cao đẹp của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người đề xướng và đặt nền móng cho việc thực hiện các chính sách xã hội nói chung, bao gồm cả hệ thống an sinh xã hội nói riêng trong từng giai đoạn cụ thể của tiến trình cách mạng ở nước ta.
 
     Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng đã bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với những chủ trương, mục tiêu thiết thực, tốt đẹp. Người đã giải thích về chủ nghĩa xã hội một cách rất thiết thực, mộc mạc, dễ hiểu đối với đông đảo đồng bào trong nước: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[4], “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[5]...
 
     Chính với những quan niệm nêu trên về chủ nghĩa xã hội và với cương vị là Trưởng ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo đưa vào văn bản Hiến pháp này những điều khoản quan trọng về các quyền được hưởng an sinh xã hội cơ bản của công dân, như “quyền làm việc”, “quyền nghỉ ngơi”, “quyền học tập”, “quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động”,... Việc hiến định và từng bước thực hiện các quyền cơ bản về an sinh xã hội cho mọi người dân trên miền Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần cổ vũ toàn quân, toàn dân ta phát huy chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
 
     Xuất phát từ lý luận trên, chúng ta thấy ở Việt Nam vấn đề an sinh xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, một mặt là do mục tiêu phấn đấu để làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mặt khác là do hậu quả của những cuộc chiến tranh, thiên tai lại thường xảy ra trên diện rộng, đất nước còn nhiều khó khăn, số hộ nghèo còn nhiều... Vì vậy, an sinh xã hội cũng đã dành được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu.
 
     Trong "Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020” - một bộ phận cấu thành của “Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, ghi nhận: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”.
 
     Như vậy, trên cơ sở phân tích các quan điểm về An sinh xã hội có thể rút ra kết luận sau: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
 
     Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội, từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững. An sinh xã hội được xác định là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
   
     Bảo đảm an sinh xã hội là điều kiện để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Tiếp tục phát triển quan điểm, chủ trương đó của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991 - bổ sung, phát triển năm 2011) và nghị quyết của các kỳ Đại hội, đặc biệt Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 10/6/2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã đặt ra yêu cầu: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ...; đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; coi bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu nhập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo,…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân[6].
 
     Cùng với tiến trình đổi mới hơn 30 năm qua, hệ thống chính sách an sinh xã hội đa dạng đã được Đảng, Nhà nước hết sức chăm lo xây dựng và đưa lại hiệu quả ngày càng rõ rệt. Tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn, hạn chế. Để phát huy hơn nữa những thành tựu đã đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng (tháng 1/2016) đã đề ra những chủ trương, chính sách bao quát sau đây: “Phát triển bền vững văn hóa, xã hội; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc, lồng ghép hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng ngành, từng địa phương…”.
 
     Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng đã đưa ra những định hướng lớn là: Hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu của chính sách  kinh tế với các mục tiêu của chính sách xã hội; nâng cao thu nhập và chất lượng sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả.
 
     Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 trở thành nước có thu nhập trung bình và hệ thống an sinh xã hội hướng tới bao phủ toàn dân. Với định hướng đó, hệ thống an sinh xã hội của nước ta hướng tới mục tiêu là cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội của người dân một cách toàn diện thông qua việc Nhà nước tạo cơ chế để mọi người dân có quyền được tham gia việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phổ cập giáo dục. Nhà nước hỗ trợ cho các nhóm yếu thế, các đối tượng đặc thù, trong đó, hỗ trợ toàn bộ cho người có hoàn cảnh khó khăn tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, tiếp cận đến giáo dục, nước sạch, thông tin truyền thông và các trợ giúp xã hội khác; hỗ trợ một phần cho người thất nghiệp, người cận nghèo, người dân có mức thu nhập dưới trung bình... để nhóm đối tượng này có điều kiện tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
 
     Trong những năm qua, dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước vẫn giành sự quan tâm đặc biệt đối với các chính sách xã hội. Điều này được thể hiện mạnh mẽ nhất ở những cơ chế, chính sách, pháp luật trong giai đoạn 2012 - 2015 trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội của nước ta.
 
     Hệ thống chính sách, pháp luật tiếp tục mở rộng hơn quyền hưởng và mức hưởng các chế độ ưu đãi xã hội và an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
 
    Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung các quyền về an sinh xã hội của người dân: Điều 34 xác nhận “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”; Điều 59 đề ra trách nhiệm “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội”.
 
    Thể chế hóa quan điểm của Đảng và thực hiện Hiến pháp năm 2013, việc bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân được thực hiện đồng bộ, thông qua tăng cường phát triển việc làm, mở rộng sự tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cải cách chính sách trợ giúp xã hội và giảm nghèo bền vững. Biểu hiện cụ thể ở các chính sách, pháp luật mặt sau:
 
Một là, hướng tới việc làm bền vững, gồm:
 
     Bộ Luật lao động sửa đổi (2012): Tiếp tục phát triển thị trường lao động, tăng cường điều kiện hoạt động của các đối tác tham gia thị trường lao động (Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức môi giới trung gian và người lao động); tăng cường hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động yếu thế trên thị trường thông qua các chính sách hỗ trợ tạo việc làm.
 
    Luật việc làm (2013): Lần đầu tiên Việt Nam có luật hướng đến khu vực kinh tế phi chính thức, đã tạo điều kiện để hỗ trợ lao động nghèo, lao động nông thôn, người thất nghiệp và tăng cường cơ hội việc làm cho lao động khu vực phi chính thức.
 
Hai là, thực hiện tốt các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công cách mạng, đời sống người có công được nâng lên, gồm:
 
     Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đã bổ sung chính sách, mở rộng đối tượng, từng bước nâng mức trợ cấp chính sách ưu đãi người có công phù hợp điều kiện kinh tế của đất nước (Mức chuẩn trợ cấp năm 2015, tăng 71,2% so với năm 2010).
 
    Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công” được phát triển sâu rộng ở tất cả các địa phương, qua đó đã huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội, cộng đồng cùng nhà nước chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng.
 
Ba là, tăng cường trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt, gồm:
 
    Trong thời gian qua, hệ thống chính sách trợ giúp xã hội không ngừng mở rộng, bao phủ hầu hết các nhóm đối tượng từ trẻ sơ sinh đến người già; hỗ trợ không chỉ người nghèo mà còn mở rộng sang các đối tượng khác. Mức chuẩn trợ cấp được điều chỉnh tăng, điều kiện hưởng và hình thức hỗ trợ ngày càng mở rộng. Nguồn lực thực hiện chính sách trợ giúp xã hội được đa dạng, kết hợp ngân sách trung ương, địa phương và của xã hội. Các hình thức trợ giúp ngày càng đa dạng, bao gồm tiền mặt hàng tháng, tiền nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội; hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch…
 
Bốn là, phát triển và thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, gồm:
 
     Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách, về cơ bản đã tạo khuôn khổ pháp luật cho toàn bộ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội và đa số người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Được cụ thể hóa bằng Luật việc làm (2013), Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi (2014), Luật an toàn, vệ sinh lao động (2015).
 
Năm là, hướng tới giảm nghèo toàn diện và bền vững, gồm:
 
    Chính sách giảm nghèo tiếp tục được hoàn thiện theo hướng: tăng cường hỗ trợ người nghèo toàn diện; tập trung giảm nghèo cho đồng bào dân tộc, các vùng nghèo, huyện nghèo; cải cách, đổi mới thể chế chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình giảm nghèo; cải cách quản lý, thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững./.


[1] . C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 19, tr. 31 - 32.
[2]. C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 22, tr. 350.
[3] . Lênin toàn tập. Tập 29, Sđd, tr 116.
[4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, t. 9, tr. 175.
[5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 17.
[6]. ĐCS Việt Nam (2016), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 299 - 301.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 6 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

1   Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 80


Hôm nayHôm nay : 717

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 27216

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1839799